Hiển thị các bài đăng có nhãn quyền sở hữu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quyền sở hữu. Hiển thị tất cả bài đăng

Ai có quyền định đoạt tài sản gia đình tôi?

Unknown | 20:05 | 0 nhận xét
Hỏi: Gia đình tôi hiện đang sống trên mảnh đất của ông bà từ xưa. Người đứng tên trong sổ hộ khẩu của gia đình là bà nội, còn người đứng tên trên sổ đỏ lại là mẹ tôi.

Vậy xin hỏi bà nội tôi có quyền định đoạt tài sản nhà cửa đất đai trong gia đình không? Mẹ tôi có quyền và nghĩa vụ gì?

Trịnh Thị Lựu (luutrinhqt@...)

Trả lời

Căn cứ khoản 20, Điều 4 Luật đất đai, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

Theo thư trình bày, mẹ của bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, căn cứ Điều 105, 106 và 107 Luật đất đai, mẹ của bà có một số các quyền và nghĩa vụ cơ bản như sau:

- Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

- Hưởng lợi ích từ việc sử dụng đất;

- Được nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình;

- Được quyền sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới đất;

- Được quyền định đoạt, sử dụng thông qua việc thực hiện các quyền chuyển đổi chuyển nhượng, cho thuê, để lại thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

Theo thư trình bày, bà nội của bạn là người đứng tên trên sổ hộ khẩu. Như vậy, bà nội của bạn chỉ là chủ hộ, không phải là người sử dụng đất. Do đó, bà nội của bạn không có quyền định đoạt đối với thửa đất mà mẹ của bạn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trân trọng,

Luật sư Phạm Đình Sơn
Theo TTO

Bị truất quyền thừa kế nếu làm giả di chúc

Unknown | 18:38 | 0 nhận xét
Hỏi: Ba chồng tôi mất đột ngột năm 2011 không trăn trối gì lại, chồng tôi trong lúc thiếu suy nghĩ đã làm giả di chúc của cha để được thừa kế căn nhà...

Mới rồi chị chồng và em chồng tôi biết chuyện nên định tố cáo. Xin hỏi nếu chia lại di sản, chồng tôi có bị truất quyền thừa kế và liệu có bị xử tù không?

Hoa Sen (hoasensg2008@....)

Trả lời:

Theo quy định tại điểm d khoản 1 điều 643 bộ luật Dân sự năm 2005 thì những người sau đây không được quyền hưởng di sản: “… Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản”. Nếu chị và em chồng bà chứng minh được việc chồng bà giả mạo chữ viết, chữ ký cha mình để hưởng một phần hoặc toàn bộ tài sản của cha thì chồng bà sẽ mất quyền hưởng di sản.

Trường hợp chồng bà không những giả mạo chữ ký, chữ viết của cha mà còn làm giả tài liệu, con dấu của uỷ ban nhân dân xã/phường hoặc phòng công chứng để lập di chúc dưới hình thức chứng thực hoặc công chứng nhằm lừa dối cá nhân, cơ quan, tổ chức để chiếm đoạt tài sản, thì chồng bà có thể còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo quy định của luật Hình sự.

Ls Bùi Bảo Trâm, Đoàn Luật sư Tp.HCM
Theo SGTT

Thủ tục chuyển quyền sở hữu đất cho con

Unknown | 09:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Tôi có một miếng đất 241m2 ở quận Tân Bình, đang xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất (đã là đất thổ cư).
Đây là bất động sản duy nhất của gia đình và tôi muốn tách ra thành 3 miếng nhỏ để cho 3 con trai (đều trên 20 tuổi, không có bất kỳ bất động sản nào khác và chưa lập gia đình). Xin hỏi bây giờ tôi phải làm thủ tục tách ra sao? Có phải đóng tiền sử dụng đất vượt hạn mức không?

Huy Cuong Nguyen, (huycuong@...)

Trả lời

Về việc tách thửa và tiền sử dụng đất quá hạn mức:

Theo thư trình bày, hiện nay ông đang lập thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở (giấy chứng nhận chủ quyền) cho căn nhà mà ông đang ở và ông muốn thực hiện việc tách thửa và chuyển quyền sở hữu cho ba người con, mỗi người một căn.

Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 91 Luật nhà ở, điều kiện khi tách thửa và chuyển quyền sở hữu cho ba người con là ông phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở đối với căn nhà.

Vì vậy, ông không thể tiến hành thủ tục tách thửa khi chưa được cấp giấy chứng nhận. Sau khi ông được cấp giấy chứng nhận chủ quyền đối với nhà và đất, lúc đó ông sẽ thực hiện thủ tục tách thửa và chuyển nhượng cho ba người con theo quy định của pháp luật.

Về tiền sử dụng đất vượt hạn mức đất ở, căn cứ khoản 1, Điều 2 Quyết định số 28/2012/QĐ- UBND ngày 6-7-2012 của UBND Tp.HCM, đối với phần diện tích đất ở vượt hạn mức đất được giao, khi người sử dụng đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thì toàn bộ diện tích đất vượt hạn mức sẽ được tính bằng cách lấy giá đất do UBND thành phố công bố hằng năm nhân với hệ số hai.

Ví dụ:

- Giá đất tại khu vực có căn nhà có giá trị 3.000.000 đồng/m2

- Hệ số điều chỉnh giá đất là 2 lần giá đất nêu trên

- Vậy giá đất mà ông phải đóng sau khi nhân với hệ số điều chỉnh là 3.000.000đồng/m2 × 2 = 6.000.000đồng/m2.

Căn cứ vào các quy định nêu trên, để ông có thể tiến hành thủ tục tách thửa và chuyển quyền sở hữu nhà cho ba người con, ông phải hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận chủ quyền cho căn nhà và được cấp giấy chứng nhận, đóng tiền sử dụng đất vượt hạn mức. Sau khi hoàn tất thủ tục nêu trên, ông có thể tiến hành việc tách thửa theo quy định sau:

Căn cứ điểm h, khoản 1, Điều 3 Quyết định 19/2009/QĐ-UBND ngày 25-2-2009 của UBND Tp.HCM, với khu vực quận Tân Bình, đối với đất chưa có nhà ở thì diện tích đất tối thiểu của mỗi thửa đất (gồm diện tích của thửa đất mới hình thành và diện tích của thửa đất còn lại) là 50m2, chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 4m.

Đối với đất có nhà ở thì diện tích tối thiểu được phép tách thửa là 45m2, chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 3m, tại đường phố có lộ giới lớn hơn hoặc bằng 20m; đối với đường phố có lộ giới nhỏ hơn 20m thì diện tích đất tối thiểu được phép tách thửa là 30m2, chiều rộng mặt tiền không nhỏ hơn 3m.

Đồng thời việc tách thửa phải đảm bảo được hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch và kết nối đồng bộ với hạ tầng kỹ thuật hiện hữu.

Thân ái!

LS Phạm Đình Sơn
Theo TTO

Có được công nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất thực tế?

Unknown | 09:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Gia đình tôi sử dụng thửa đất ở có diện tích 350m2 từ năm 1982, đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (mẫu cũ). Năm 1989 gia đình tôi khai hoang sử dụng 450m2 đất liền kề là đất chưa sử dụng, nâng diện tích sử dụng đất thực tế của gia đình là 800m2.
Việc sử dụng đất từ đó đến nay không có tranh chấp. Năm 2012, địa phương yêu cầu các hộ gia đình nộp bản photo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) để làm lại. Vậy, gia đình tôi có thể đề nghị cấp Giấy chứng nhận QSDĐ mới với diện tích đất thực tế là 800m2 không?
Phan Thị Hoài Tâm (phanthihoaitam@...)
Trả lời:

Trường hợp được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ
Theo quy định tại khoản 4 Điều 50 Luật Đất đai thì hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993, nay được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận QSDĐ.

Trường hợp không được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ

Tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định: Hộ gia đình, cá nhân không được cấp Giấy chứng nhận đối với phần diện tích đất được sử dụng trước ngày 15/10/1993 trong trường hợp tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất đã có một trong các hành vi vi phạm sau đây:

- Vi phạm quy hoạch chi tiết xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai;

- Vi phạm quy hoạch chi tiết mặt bằng xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai đối với diện tích đất đã giao cho tổ chức, cộng đồng dân cư quản lý;

- Lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng đã được công bố, cắm mốc;

- Lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè đã có chỉ giới xây dựng;

- Lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng, đất của tổ chức, đất chưa sử dụng và các trường hợp vi phạm khác đã có văn bản ngăn chặn nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm.

Tại khoản 5 Điều 14 Nghị định này quy định: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này nhưng phù hợp với quy hoạch tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận thì được cấp Giấy chứng nhận.

Cụ thể trường hợp bà Phan Thị Hoài Tâm: Gia đình bà sử dụng thửa đất ở có diện tích 350m2 từ năm 1982, đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận QSDĐ mẫu cũ. Năm 1989 gia đình bà khai hoang sử dụng 450 m2 đất liền kề là đất chưa sử dụng, nâng diện tích sử dụng đất thực tế của gia đình là 800m2. Việc sử dụng đất từ đó đến nay không có tranh chấp.

Căn cứ các quy định nêu trên: Nếu việc sử dụng 450 m2 đất liền kề này được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được duyệt hiện nay, thì gia đình bà được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích sử dụng thực tế 800 m2. Khi được chứng nhận QSDĐ đối với diện tích đất liền kề 450 m2 đã sử dụng từ năm 1989, thì gia đình bà Tâm phải nộp tiền sử dụng đất bằng 50% theo giá đất do UBND tỉnh quy định đối với phần diện tích đất trong hạn mức giao đất ở mới; bằng 100% theo giá đất ở do UBND cấp tỉnh quyết định phù hợp với giá chuyển nhượng QSDĐ thực tế trên thị trường tại thời điểm cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với diện tích ngoài hạn mức giao đất ở (theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 bổ sung vào khoản 5 Điều 8 Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ).

Nếu việc sử dụng 450 m2 đất liền kề này là một trong những trường hợp đất lấn chiếm quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định 84/2007/NĐ-CP nêu trên và việc sử dụng đất đó hiện nay không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt, thì gia đình bà không được cấp giấy chứng nhận đối với diện tích đó.
Luật sư Lê Văn Đài
VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội

Theo Chinhphu.vn

Có được khai nhận thừa kế đất nằm trong quy hoạch?

Unknown | 00:09 | 0 nhận xét

Hỏi: Năm 2009 bố tôi mất và có để lại một thửa đất ở quận Đống Đa, Hà Nội. Thửa đất này đã được cấp sổ đỏ mang tên cả bố và mẹ tôi. Tôi thấy ở mục ghi chú có ghi: “đất nằm trong khu quy hoạch”.
Xin luật sư cho biết: Gia đình tôi có thể tiến hành thủ tục khai nhận di sản trong trường hợp này được không? (Hoàng Đại, phố Kim Mã, quận Ba Đình, Hà Nội).

Trả lời:

Điều 106 Luật Đất đai quy định: “Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất:

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất... khi có các điều kiện sau đây: Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Đất không có tranh chấp; Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;  Trong thời hạn sử dụng đất”.

Theo đó, bạn có thể làm các thủ tục để khai nhận di sản thừa kế của bố bạn để lại khi có đủ 2 tiêu chí:

1. Nhà bạn có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 2. Đất đó thuộc diện quy hoạch nhưng chưa có quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền.

Bạn có thể đến các phòng TN&MT nơi cư trú để được hướng dẫn chi tiết.
Luật sư Vũ Văn Lợi
Theo PLXH

Cháu đích tôn có được hưởng thừa kế của ông bà?

Unknown | 10:30 | 0 nhận xét
Tôi có câu hỏi về quyền thừa kế, kính mong Luật sư trả lời giúp. Sau khi bà tôi mất, thì một thời gian sau ba tôi cũng mất. Nhà tôi hiện giờ còn ông nội và 5 người con, kể cả ba tôi là 6 người ( trong đó có hai người định cư ở nước ngoài). 

Vừa qua, ông nội tôi có làm di sản thừa kế hay di chúc gì đó cho các con, nhưng không có phần của ba tôi. Nay ông tôi muốn bán nhà và đất để chia mà cũng không có phần của ba tôi.

Thưa luật sư, xin hỏi:

1/ Bà tôi mất, vậy tôi là cháu nội đích tôn , tôi có được hưởng phần của ba tôi không? Vì trước khi bà tôi mất thì ba mẹ tôi đã ly hôn.

2/ Nếu ông nội tôi làm di chúc chia tài sản cho các con mà không có phần của ba tôi , như vậy có đúng không ?Xin cảm ơn chuyên mục 

Kính gửi: Quý bạn đọc

Trong trường hợp này cần xác định rõ phần tài sản mà ông của bạn quyết định bán có phải là tài sản riêng của ông hày không? Nếu đây là phần tài sản riêng thì ông của bạn hoàn toàn có quyền định đoạt đối với phần tài sản này.

Nếu phần tài sản này là tài sản chung của ông bà trong thời kỳ hôn nhân thì bà của bạn cũng có quyền sở hữu đối với phần tài sản này (một nữa trong khối tài sản chung). Vì vậy khi bà của bạn chết mà không để lại di chúc thì phần di sản mà bà bạn để lại sẽ được chia theo pháp luật khi có yêu cầu. Theo quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự quy định về những người thừa kế theo pháp luật như sau: 1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Như vậy ba của bạn cũng được hưởng phần di sản thừa kế theo pháp luật này. Ba của bạn chết thì phần của ba bạn sẽ được chia theo pháp luật theo điều 676 của luật này. Vì vậy bạn vẫn có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần mà mình được hưởng. Bạn cũng cần lưu ý thêm về thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế: điều 645 Bộ luật dân sự quy định: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Đối với phần tài sản riêng của ông bạn, ông bạn có quyền để lại di chúc hoặc bán tài sản trên để tặng cho bất kể chủ thể nào là do ông bạn quyết định và không nhất thiết phải tặng cho bạn hoặc bố bạn.

Nhập hộ khẩu có ảnh hưởng quyền sử dụng đất?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Tôi đang đứng tên trong sổ hộ khẩu và sổ đỏ của gia đình. Nay tôi muốn cho chị tôi nhập vào hộ khẩu thì có ảnh hưởng gì đến quyền sở hữu nhà đất không?

Trả lời:

Quyền cư trú và quyền sở hữu tài sản là hai quyền khác nhau. Chị của bạn nhập hộ khẩu vào gia đình bạn là thực hiện quyền cư trú với sự đồng ý của chủ hộ khẩu là bạn. Điều 19 Luật Cư trú quy định:

“Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản”.

Điều 24 Luật Cư trú quy định:

“Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân”.

Bạn đã đứng tên trên sổ đỏ nên quyền lợi của bạn được đảm bảo theo quy định tại khoản 20 điều 4 Luật Đất đai:

“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sổ đỏ) là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.

Như vậy, Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất cho bạn. Sổ hộ khẩu chỉ có giá trị xác định nơi thường trú của người chị. Chị của bạn không đứng tên trên giấy đỏ nên không được Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền về sở hữu nhà, đất đối với nhà thuộc quyền sở hữu hợp pháp và đất thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của bạn.
LS Trương Thị Hòa
(Đoàn Luật sư Tp.HCM)
Theo PNO

Tặng nhà cho con phải lập thành văn bản

Unknown | 10:30 | 0 nhận xét

Hỏi: Ba anh tôi được bố mẹ xây nhà ở riêng. Tôi là con út nên ở tại mảnh đất của gia đình. Khi còn sống, bố mẹ nhiều lần nói trước mặt cả gia đình se cho tôi khu đất này. Nay, bố mẹ đột ngột qua đời do tai nạn, 3 anh muốn chia thừa kế. Xin hỏi, các anh có thể làm thế được không?
Các mảnh đất và nhà trước đây bố mẹ tôi bỏ tiền ra xây dựng cho anh tôi có được coi là di sản thừa kế không? Trịnh Văn Tuấn

Trả lời

Việc bố mẹ bạn nói nhiều lần trước mặt cả gia đình sẽ cho bạn toàn bộ mảnh đất khi họ còn sống không được coi là căn cứ để xác lập quyền sở hữu cho bạn.

Theo Điều 467 Bộ luật dân sự, việc tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký quyền sở hữu. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản.

Bên cạnh đó, Điều 129 Luật Đất đai cũng quy định, văn bản cam kết tặng cho hoặc hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất hoặc chứng nhận của công chứng nhà nước.

Ngoài ra, khoản 4 Điều 146 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai còn quy định: hợp đồng hoặc văn bản tặng cho quyền sử dụng đất… có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.

Theo các quy định nói trên, nguyện vọng của bố mẹ bạn muốn tặng cho bạn mảnh đất nói trên chỉ được pháp luật công nhận khi nguyện vọng đó được lập thành văn bản (hợp đồng tặng cho hoặc văn bản tặng cho) có chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có mảnh đất hoặc được công chứng và phải đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Như vậy, việc bố mẹ bạn nói nhiều lần trước mặt cả gia đình là sẽ cho bạn toàn bộ mảnh đất nói trên khi còn sống không được coi là căn cứ để xác lập quyền sở hữu cho bạn. Do đó, mảnh đất đó được coi là di sản thừa kế của bố mẹ bạn để lại. Trong trường hợp này, nếu bố mẹ bạn có di chúc thì di sản sẽ được phân chia theo di chúc; nếu bố mẹ bạn không để lại di chúc thì di sản thừa kế sẽ được chia đều cho 4 anh em bạn.

Đối với các mảnh đất và nhà mà bố mẹ bạn bỏ tiền xây dựng cho các anh trai của bạn trước đây cần phải xem xét việc tặng cho giữa bố mẹ bạn và các anh trai bạn được thực hiện như thế nào? Việc tặng cho có thể thể hiện ở Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà cấp cho những người anh của bạn.

Nếu nhà đất đã đứng tên các anh bạn, đó là tài sản riêng của các anh bạn, không thể đem phân chia cho các đồng thừa kế khác. Trong trường hợp nhà đất vẫn mang tên bố mẹ bạn, nhà đất đó là di sản thừa kế của bố mẹ bạn; những nhà đất này sẽ được gộp chung vào với mảnh đất bạn đang ở để chia cho các đồng thừa kế.
Thạc sĩ, Luật sư Phạm Thanh Bình
Theo VnExpress

Có được mua thêm nhà tái định cư khi đã tách sổ đỏ?

Unknown | 20:25 | 0 nhận xét

Hỏi: Nhà tôi đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ hiện đang nằm trong diện giải tỏa. Con trai tôi mới kết hôn, tôi có thể tách hộ khẩu cho vợ chồng con không?
Nếu tôi tách làm 2 khẩu, thì khi đền bù có được mua 2 căn nhà tái định cư không? (Nguyễn Công Minh, Hà Nội, Email: congminh@gmail.com).

Trả lời

Điểm 2 điều 1 Nghị định 56/2010/NĐ-CP ngày 24/05/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung khoản 4 điều 4 Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25/6/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Cư trú như sau:

“Không đăng ký thường trú khi công dân chuyển đến chỗ ở mới, thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Chỗ ở nằm trong địa điểm cấm, khu vực cấm xây dựng hoặc lấn chiếm mốc giới bảo vệ công trình hạ tầng kỹ thuật, di tích lịch sử, văn hóa đã được xếp hạng;

b) Chỗ ở mà toàn bộ diện tích nhà ở nằm trên đất lấn chiếm trái phép;

c) Chỗ ở đã có phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chỗ ở là nhà ở mà một phần hoặc toàn bộ diện tích nhà ở đang có tranh chấp, khiếu nại liên quan đến quyền sở hữu, sử dụng nhưng chưa được giải quyết theo quy định của pháp luật (trừ trường hợp những người có quan hệ là ông, bà nội, ngoại, cha, mẹ, vợ, chồng, con chuyển đến ở với nhau);

d) Chỗ ở bị kê biên, tịch thu để thi hành án, trưng mua theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

đ) Chỗ ở là nhà ở đã có quyết định phá dỡ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”

Căn cứ Điều 27 về Luật Cư trú quy định về tách sổ hộ khẩu như sau:

“1. Trường hợp có cùng một chỗ ở hợp phápđược tách sổ hộ khẩu bao gồm:

a) Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có nhu cầu tách sổ hộ khẩu;

b) Người đã nhập vào sổ hộ khẩu quy định tại khoản 3 Điều 25 và khoản 2 Điều 26của Luật này mà được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản.

2. Khi tách sổ hộ khẩu, người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu; phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

3. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải trả kết quả giải quyết việc tách sổ hộ khẩu; trường hợp không giải quyết việc tách sổ hộ khẩu thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do”.

Như vậy, hiện nay chưa có quy định cụ thể về việc đất nằm trong diện giải tỏa có được tách sổ hộ khẩu hay không? Pháp luật chỉ quy định không cho đăng ký thường trú khi công dân chuyển đến chỗ ở mới trong trường hợp chỗ ở đã có phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Ông có liên liên hệ trực tiếp với Công an quận, huyện để được giải quyết về việc xin tách sổ hộ khẩu cho con trai ông.

Căn cứ khoản 5 Điều 48 Quyết định số 108/2009/QĐ-UBND ngày 29/09/2009 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội quy định về bố trí tái định cư bằng nhà chung cư cao tầng đối với hộ gia đình, cá nhân như sau:

“Trường hợp trong một chủ sử dụng nhà ở, đất ở có từ 02 hộ gia đình trở lên có đồng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở (hoặc quyền sử dụng nhà ở đối với trường hợp cùng ghi tên trong hợp đồng thuê nhà thuộc sở hữu Nhà nước) đang ăn ở thường xuyên và đăng ký thường trú hoặc tạm trú từ 01 năm trở lên tại địa điểm giải phóng mặt bằng trước thời điểm có thông báo thu hồi đất theo quy định tại Điều 49 bản quy định này, thì mỗi hộ gia đình phải di chuyển chỗ ở được xét mua 01 căn hộ tái định cư.

Tổng diện tích sàn các căn hộ được tái định cư đối với 02 trường hợp quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều này không quá 03 lần diện tích đất bị thu hồi được bồi thường theo giá đất ở”.
Như vậy, nếu gia đình ông được tách sổ hộ khẩu thì khi thu hồi đất ở nếu hai hộ gia đình có đồng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở thì mỗi hộ sẽ được xét mua 01 căn hộ tái định cư.
Luật sư Vũ Hải Lý
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẠI VIỆT

Theo Dân trí

Cha mẹ có quyền không cho con thừa kế nhà

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Cha mẹ tôi có một căn nhà, đã có sổ hồng. Cha mẹ tôi có hai con gái, tôi và một người em nữa. Cha mẹ tôi đã đến UBND phường lập di chúc để lại ngôi nhà cho một người cháu, mà không cho hai người con.
Xin hỏi, cha mẹ tôi có quyền làm như vậy không?

Thân Thị Mỹ Phượng (Đường Nguyễn Lương Bằng, phường 2, Tp. Đà Lạt, Lâm Đồng)

Trả lời:

Theo Điều 631 BLDS 2005, cá nhân có quyền lập di chúc để định đọat tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Tuy nhiên, Điều 669 BLDS 2005 cũng có quy định: “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản…: 1) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; 2) Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”.

Như vậy, cha mẹ bà có quyền lập di chúc hợp pháp để lại nhà cho người cháu và nếu hai chị em bà không thuộc đối tượng nêu trên (còn ông bà nội ngoại đã qua đời) thì người cháu được thừa kế trọn căn nhà.
 
Luật gia Nguyễn Văn Khôi
Theo Công lý

"Phải tăng thêm quyền cho người sử dụng đất"

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Trao đổi với báo chí về việc sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai, ông Phạm Quốc Anh cho rằng, phải tăng thêm quyền cho người sử dụng đất; đẩy mạnh cơ chế thỏa thuận khi thu hồi đất trên cơ sở dân chủ, công khai.

Thực thi luật không tốt

Nhìn tổng thể thì những bất cập hiện nay trong chính sách đất đai là do luật pháp hay quá trình thực thi, thưa ông?

Tôi nghiêng về việc cán bộ đã thực thi không tốt. Dù luật sửa đổi đến mấy cũng khó sát hết thực tiễn. Do vậy, quan trọng là cái tâm, trách nhiệm của người cán bộ thực thi luật.
Tôi cho rằng, việc thực hiện Nghị quyết T.Ư về xây dựng Đảng có ý nghĩa quyết định để nâng cao hiệu quả, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ đảng viên các cấp.

Nếu cán bộ không thực sự trân trọng những quyền lợi của người dân, thì khó tránh khỏi những sai lầm. Do vậy, cần công khai, dân chủ, minh bạch và trên hết là cái tâm của người cán bộ.

Theo khảo sát mới đây của nhóm nghiên cứu về chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2011, chỉ có 12,86% số hộ gia đình bị thu hồi đất cho biết giá đền bù gần với giá thị trường. Ý kiến của ông thế nào?

Hiện nay, 70% vụ khiếu nại, tố cáo (KNTC) liên quan lĩnh vực đất đai. Mà KNTC cũng chủ yếu do giá đền bù khi thu hồi đất. Nếu giải quyết thỏa đáng, có tình, có lý thì người dân ủng hộ. Nhưng có nơi đã giải quyết mang tính chủ quan, áp đặt hoặc có lợi ích cho một nhóm người.

Do vậy, điều đầu tiên là phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai. Trong kỳ họp tới đây, QH sẽ xem xét nội dung này. Trong thực thi pháp luật, phải tuyên truyền, phổ biến để người dân hiểu đúng Luật Đất đai.

Các cơ quan quản lý nhà nước phải thực sự công khai, minh bạch trong giải quyết liên quan đến quyền lợi của người dân. Ví như, giá đền bù khi thu hồi đất phải sát thực tiễn cuộc sống, chứ không thể đền bù quá thấp, áp giá đền bù không đúng loại đất.

Tôi nghĩ người dân rất tốt nhưng có nơi một số cán bộ địa phương làm không đúng, gây thiệt thòi quá lớn nên người dân không đồng tình.

Nhiều ý kiến cho rằng khi sửa Luật Đất đai tới đây cần thu hẹp phạm vi áp dụng của cơ chế nhà nước thu hồi đất, tăng thêm quyền cho người sử dụng đất, ông nghĩ sao?

Tôi cho rằng phải tăng thêm quyền cho người sử dụng đất. Đẩy mạnh cơ chế thỏa thuận khi thu hồi đất trên cơ sở dân chủ, công khai.

Đương nhiên, những công trình liên quan lợi ích quốc gia, an ninh quốc phòng thì người dân có thể phải chịu hy sinh quyền lợi cá nhân chứ không thể đòi lên, đòi xuống được.

Còn những công trình không cấp thiết, phục vụ cho lợi ích kinh tế của một bộ phận thì phải đền bù thỏa đáng cho người sử dụng đất.

Kéo dài thời gian giao đất cho nông dân

Đối với đất nông nghiệp, các ý kiến đều thống nhất cần mở rộng hạn mức và kéo dài thời gian giao đất cho nông dân, quan điểm của ông ra sao?

Tôi rất tán thành những đề xuất này khi sửa đổi luật. Nước ta đang trên đường CNH, HĐH nhưng hiện nay cơ bản vẫn là nước nông nghiệp. Nông nghiệp vẫn là cốt lõi, đảm bảo sự bền vững của nền kinh tế.

Phải đảm bảo quyền lợi thỏa đáng cho nông dân mất đất, chứ không thể thu hồi đất của nông dân rồi để hoang.

Do vậy, trong quy hoạch khu đô thị, công nghiệp phải đảm bảo hiệu quả sử dụng bởi đất đai là vàng, là tư liệu sản xuất của nông dân.

Ngay tại Thủ đô Hà Nội có những khu đất để hoang nhiều năm trời mà chưa bị xử lý…

Tại Hà Nội có những khu đất được gọi là “đất vàng” để hoang thì UBND thành phố phải vào cuộc xử lý sớm, vị phạm thì phải thu hồi. Những khu dự án không triển khai trên thực tế thì phải trả lại đất cho nông dân như một số tỉnh đã thực hiện thời gian qua.

Về phía Hội Luật gia Việt Nam, việc trợ giúp pháp lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo đã được triển khai ra sao, thưa ông?

Đối với việc trao quyền pháp lý cho người dân, chúng tôi rất chú trọng đến việc trợ giúp để người dân hiểu Luật Đất đai, giám sát việc thực thi luật của chính quyền.

Trên cơ sở đó, sẽ giải quyết những KNTC trong lĩnh vực này. Tôi cho rằng, căn cứ vào Luật Đất đai hiện có và tới đây được sửa đổi, bổ sung thì việc thực thi vẫn là quan trọng nhất.

Cám ơn ông.
Ngày 27- 8, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại VN phối hợp Hội Luật gia VN tổ chức cuộc họp thường niên lần thứ 3 “Diễn đàn đối tác châu Á về trao quyền pháp lý” với sự tham gia của các nhà hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực trao quyền pháp lý, đại diện chính phủ và các tổ chức xã hội dân sự đến từ 17 quốc gia châu Á- Thái Bình Dương. Phát biểu tại hội nghị, ông Bakhodir Burkhanov, Quyền Giám đốc quốc gia UNDP tại VN cho biết, UNDP đã xác định 4 lĩnh vực trụ cột gồm: tiếp cận công lý và pháp quyền; quyền lao động; quyền tài sản và quyền kinh doanh. Đây là những yếu tố quan trọng chi phối kế sinh nhai của người nghèo và cần phải được thừa nhận.

Theo TPO

Làm thế nào để xác nhận ranh giới thửa đất liền kề?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Cả gia đình tôi đang sống trên mảnh đất diện tích 170m2 do các cụ, ông bà để lại, đất ở ổn định và có từ thời Pháp thuộc (trước năm 1954). Nhưng cho đến nay thửa này vẫn chưa được cấp sổ đỏ trong khi các hộ xung quanh đã có.
Tôi lên UBND thị trấn đề nghị được cấp sổ đỏ, họ cấp cho tôi 2 tờ đơn đề nghị xin cấp GCNQSDĐ, 2 bản trích đo thửa đất gia đình tôi đang ở và nói là về xin chữ ký xác nhận của các hộ giáp ranh rồi mang trở lại cho UBND thị trấn để họ phê duyệt. Tôi đã xin hết chữ ký xác nhận của các hộ giáp ranh nhưng chỉ còn một hộ giáp ranh bên cạnh nhà tôi là họ không ký xác nhận (do một chút mâu thuẫn riêng trước đó).

Còn thiếu một hộ giáp ranh bên cạnh không ký xác nhận vào bản trích đo của gia đình tôi thì liệu tôi có đủ điều kiện để được cấp sổ đỏ không? Hoàng Nhật Hà (canhhung70@...)

 Trả lời

1. Vấn đề ký xác nhận ranh giới thửa đất của các hộ liền kề

Theo quy định tại Khoản 6.6 Mục I Thông tư 09/2007/TT-BTNMT ngày 2/8/2007 của Bộ Tài nguyên và môi trường hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính, các cơ quan có trách nhiệm lập hồ sơ địa chính và giải quyết thủ tục hành chính về cấp giấy chứng nhận không được buộc người làm thủ tục cấp giấy chứng nhận lấy xác nhận của người sử dụng đất liền kề.

Ngay cả khi người sử dụng đất liền kề không xác nhận và cũng không có tranh chấp thì việc cấp giấy chứng nhận vẫn phải được tiến hành. Tôi trích toàn văn quy định này để bạn tham khảo và có cơ sở pháp lý áp dụng cho trường hợp của gia đình bạn.

“6.6. Ranh giới thửa đất được xác định khi đo vẽ bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận theo quy định như sau:

a. Trường hợp thửa đất xin cấp giấy chứng nhận có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai mà trong giấy tờ đó thể hiện rõ đường ranh giới chung của thửa đất (mô tả các mốc ranh giới hoặc ghi kích thước từng cạnh thửa) với các thửa đất liền kề và hiện trạng đường ranh giới của thửa đất không thay đổi so với giấy tờ về quyền sử dụng đất hiện có thì đường ranh giới thửa đất được xác định theo giấy tờ đó;

b. Trường hợp thửa đất xin cấp giấy chứng nhận không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai, hoặc có một trong các loại giấy tờ đó nhưng không thể hiện rõ đường ranh giới chung của thửa đất với các thửa đất liền kề hoặc hiện trạng đường ranh giới của thửa đất đã thay đổi so với đường ranh giới thể hiện trên giấy tờ đó thì:

- Đơn vị đo đạc lập bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính (gọi chung là đơn vị đo đạc) có trách nhiệm xem xét cụ thể về hiện trạng sử dụng đất, ý kiến của những người sử dụng đất liền kề để xác định và lập bản mô tả về ranh giới thửa đất; chuyển bản mô tả ranh giới thửa đất cho những người sử dụng đất có chung ranh giới thửa đất và người nhận bản mô tả có trách nhiệm ký xác nhận về việc đã nhận bản mô tả này;

- Sau mười ngày kể từ ngày nhận được bản mô tả, nếu người nhận bản mô tả không có đơn tranh chấp về ranh giới thửa đất thì ranh giới thửa đất được xác định theo bản mô tả đó;

c. Các cơ quan có trách nhiệm lập hồ sơ địa chính và giải quyết thủ tục hành chính về cấp giấy chứng nhận không được buộc người làm thủ tục cấp giấy chứng nhận lấy xác nhận của người sử dụng đất liền kề.

Trường hợp người sử dụng thửa đất liền kề vắng mặt dài ngày thì đơn vị đo đạc có trách nhiệm chuyển bản mô tả ranh giới thửa đất đó cho ủy ban nhân dân cấp xã để gửi cho người sử dụng đất liền kề; trường hợp đến khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận đối với thửa đất liên quan đến đường ranh giới đó mà chưa gửi được bản mô tả cho người sử dụng đất liền kề thì UBND cấp xã ghi xác nhận vào đơn xin cấp giấy chứng nhận “Chưa gửi được bản mô tả thửa đất cho… (ghi tên và địa chỉ của người sử dụng đất liền kề vắng mặt)”.

Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm gửi thông báo ba lần trong thời gian không quá mười ngày trên một trong các phương tiện thông tin đại chúng của trung ương hoặc địa phương về việc xác định ranh giới chung của các thửa đất; chi phí cho việc thông báo được tính chung trong chi phí cấp giấy chứng nhận và được lấy từ nguồn ngân sách. Sau ba mươi ngày kể từ ngày thông báo cuối cùng, nếu không có đơn tranh chấp của người sử dụng đất liền kề thì ranh giới thửa đất được xác định theo bản mô tả đó”.

Như vậy, bạn có thể báo cáo sự việc đến UBND thị trấn để cơ quan này sớm có biện pháp giải quyết theo đúng thủ tục luật định.

Trong trường hợp cán bộ giải quyết thủ tục cấp giấy chứng nhận cho gia đình bạn vẫn tiếp tục yêu cầu bạn phải xin xác nhận của hộ liền kề, theo quy định của Luật khiếu nại số 02/2011/QH13, bạn có quyền gửi đơn khiếu nại đến UBND thị trấn hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án nhân dân huyện.

2. Thủ tục xin cấp giấy chứng nhận

Bạn không nêu rõ gia đình bạn có hay không có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất, nhưng với thông tin sử dụng đất bạn nêu, có thể thấy việc sử dụng đất của gia đình bạn thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất ổn định trước ngày 15/10/1993 quy định tại Điều 50 Luật đất đai.

Nếu đất sử dụng phù hợp quy hoạch và không tranh chấp, gia đình bạn sẽ đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận theo Điều 7 Nghị định 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/10/2009 về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; và Điều 15 của bản quy định ban hành kèm theo Quyết định 1609/2010/QĐ-UBND của UBND thành phố Hải Phòng ngày 30/9/2010.

Bạn cũng không nêu rõ xin cấp giấy chứng nhận chỉ đối với quyền sử dụng đất hay là cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất (như nhà ở…), nên về quy trình, xin tóm tắt cả hai trường hợp theo sơ đồ dưới đây căn cứ theo quy định tại Điều 14, Điều 16 và Điều 17 Nghị định 88/2009/NĐ-CP (xem sơ đồ).

- Trình tự, thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận cho thửa đất không có tài sản gắn liền, hoặc có tài sản nhưng không có nhu cầu chứng nhận quyền sở hữu, hoặc có tài sản nhưng thuộc quyền sở hữu của chủ khác đối với chủ thể đăng ký (*) ở xã, thị trấn (Điều 14 NĐ88/2009/NĐ-CP): 50 ngày.
 Trình tự, thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận cho chủ thể đăng ký (*) ở xã, thị trấn là người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu nhà ở, công trình xây dựng (Điều 16 và Điều 17 NĐ88/2009/NĐ-CP): 50 ngày.
Tiến sĩ luật Đặng Anh Quân
Theo TTO

Nên đứng tên mảnh đất nào để có lợi nhất?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Bố mẹ tôi sở hữu 2 mảnh đất ở Thủ Đức. Mảnh 1 hiện gia đình đang ở, diện tích 126,8m2, đã có chứng nhận quyền sở hữu đất. Mảnh thứ 2 diện tích 121,8m2, bố mẹ tôi đã đi làm thủ tục giấy chứng nhận quyền sở hữu đất vào năm 2008 nhưng chỉ mới đóng lệ phí và thuế trước bạ.
Còn tiền sử dụng đất được ghi nợ "từ ngày 16/8/2008" theo nghị định 84/2007, trên đó không ghi số tiền nợ là bao nhiêu. Cả hai mảnh đất này đều do bố mẹ tôi đứng tên và cùng ở quận Thủ Đức.

Nay gia đình muốn tặng lại cho tôi 1 trong 2 mảnh đất để tôi thực hiện nghĩa vụ đóng thuế nhưng tôi không biết số tiền phải đóng sẽ được tính toán như thế nào? quang bach, (quangbachsy@...)

Trả lời

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 4 Luật thuế thu nhập cá nhân, thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là nhà, đất giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau thuộc diện được miễn thuế.

Theo quy định tại Khoản 10 Điều 4 Nghị định 45/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 17/6/2011 về lệ phí trước bạ, việc nhận thừa kế, quà tặng là nhà, đất giữa những đối tượng nêu trên cũng thuộc trường hợp không nộp lệ phí trước bạ.

Như vậy, khi bạn được ba, mẹ tặng, cho nhà, đất thì không phải nộp thuế thu nhập cá nhân lẫn lệ phí trước bạ. Sau khi nhận tặng, cho, bạn chỉ phải nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hằng năm. Tuy nhiên, người tặng cho phải hoàn thành xong nghĩa vụ tài chính của mình đối với Nhà nước (cụ thể ở đây là tiền sử dụng đất).

Theo đó:

- Đối với mảnh đất có diện tích 126,8m2 mà ba, mẹ bạn đã thực hiện xong đầy đủ nghĩa vụ: sau khi nhận tặng, cho, bạn không phải nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nước.

- Đối với mảnh đất có diện tích 121,8m2 mà ba, mẹ bạn đang nợ tiền sử dụng đất: trước khi tặng, cho phải thanh toán xong khoản nợ này.

Do ba, mẹ của bạn được ghi nợ tiền sử dụng đất theo Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25-5-2007, nên căn cứ quy định tại Khoản 8 Điều 2 Nghị định 120/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/12/2010 và Khoản 3 Điều 8 Thông tư 93/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính ngày 29/6/2011, trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày 1/3/2011, người sử dụng đất được trả nợ theo giá đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; sau 5 năm mà chưa trả hết nợ tiền sử dụng đất hoặc mới bắt đầu thanh toán nợ, thì người sử dụng đất phải nộp tiền sử dụng đất theo giá đất do ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại thời điểm trả nợ.

Như vậy, dù là bạn hay ba, mẹ của bạn trả nợ tiền sử dụng đất thì trong thời hạn tối đa là 5 năm, kể từ ngày 1/3/2011, nếu trả nợ tiền sử dụng đất cho Nhà nước thì vẫn được thanh toán tiền sử dụng đất theo giá đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau thời gian này, số tiền sử dụng đất còn nợ sẽ được tính lại theo giá đất do Ủy ban nhân dân Tp.HCM quy định tại thời điểm trả nợ.

Việc trả nợ tiền sử dụng đất là nghĩa vụ, sớm hay muộn cũng phải thực hiện dù ba, mẹ của bạn có tặng, cho nhà, đất này cho bạn hay không. Tuy nhiên, nếu thực hiện sau thời hạn 5 năm quy định nêu trên thì số tiền sử dụng đất mà gia đình bạn phải nộp có thể sẽ tăng lên do sự điều chỉnh giá đất của cơ quan có thẩm quyền.

Hi vọng giải đáp được thắc mắc của bạn.
Tiến sĩ luật Đặng Anh Quân
Theo TTO

Bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có giá trị hay không?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Tôi dự định mua lô đất diện tích 72m2, tại quận Bình Chánh. Chủ của miếng đất này chỉ có bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì bản chính đã mất. Vậy tôi xin hỏi, bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp này có giá trị hay không?
Để xác minh tính chân thực của giấy chứng nhận trên thì tôi có thể liên hệ với cơ quan nào để được trợ giúp? Xin chân thành cảm ơn luật sư! (anhdn2989@...)

Trả lời

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18/5/2007 thì bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị pháp lý sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch. Tuy nhiên, khi thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất thì cần có bản chính để cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi nhận biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất đó.

Trường hợp Giấy chứng nhận đã mất thì người chủ có thể mang bản sao đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện để làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận. Sau đó mới thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho bạn được.

Bạn có thể mang bản sao Giấy chứng nhận trên đến Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Chánh hoặc Trung tâm Thông tin Tài nguyên Môi trường và Đăng ký nhà đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường để tìm hiểu thông tin về thửa đất mà bạn dự định nhận chuyển nhượng.
Luật sư Lê Văn Huyên
Công ty TNHH Đất Luật

Theo CafeLand

Vì sao nhà trong lộ giới hẻm vẫn được sửa?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Vào tháng 5, một hộ trong hẻm 84 Lê Quang Định, P.14, Q.Bình Thạnh (Tp.HCM) sửa chữa gác, nhưng khi trổ cửa sổ, nâng cao... thì bị cấm vì vi phạm lộ giới hẻm.
Điều này hợp lý, đúng theo Luật xây dựng quy định. Tuy nhiên hiện nay có căn hộ số 84/1 Lê Quang Định đang sửa chữa nhà lại thoải mái nâng gác, làm bêtông cao 3m nữa. Tại sao nhà 84/1 này lại được phép làm như vậy? Thanh tra xây dựng của phường có biết hay không? Bà con ở hẻm 84 Lê Quang Định

Trả lời

Qua kiểm tra hồ sơ và khảo sát thực tế, UBND P.14 xác nhận căn nhà số 84/1 Lê Quang Định thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Hải theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 745/GCN/2009 do UBND Q.Bình Thạnh cấp ngày 16/2/2009, cấu trúc nhà 1 trệt, 1 gác sàn gỗ, bancông sử dụng vật liệu sàn bêtông cốt thép, toàn diện tích được công nhận sau khi trừ ra lộ giới hẻm (4,5m) là 22,5m2.

Ngày 10/4/2012 bà Hải có đăng ký sửa chữa nhà tại UBND P.14 với nội dung: gia cố chân móng, nâng mái 1m, thay tôn cũ và sửa chữa sàn gác cũ bị mục. Việc đăng ký sửa chữa thuộc phạm vi không phải xin giấy phép xây dựng theo điểm g - khoản 1 - điều 4 quyết định số 68/2010/QĐ - UBND ngày 14/9/2010 của UBND thành phố về cấp phép xây dựng và quản lý xây dựng theo giấy phép trên địa bàn Tp.HCM. Qua kiểm tra của Thanh tra xây dựng P.14, hộ này đang gia cố móng và chưa sửa chữa phần trên. Thanh tra xây dựng P.14 sẽ tiếp tục theo dõi và ra xử lý vi phạm nếu có.
Ông Nguyễn Văn Quý (chủ tịch UBND P.14, Q.Bình Thạnh)
Theo TTO

Khi làm mái vòm che nắng có phải xin hàng xóm không?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Nhà tôi thuộc diện nhà Nhà nước cấp (đã hóa giá). Nhà có 2 hộ, nhà tôi là hộ trên lầu (có đường đi riêng), có sân thượng nền là bêtông cốt thép, xung quanh là lan can bằng tường (cao 8 tấc).
Vì trời nắng nóng nên tôi xin UBND phường 19, Q.Bình Thạnh làm mái vòm trên sân thượng che nắng. Nhưng UBND phường nói là không được phép vì đã vi phạm vào trường hợp cơi nới, nếu muốn làm thì phải được sự đồng ý của hộ dưới. Nhưng hộ dưới không đồng ý.

Như vậy, tôi phải làm như thế nào để có thể làm mái vòm hoặc có thể làm giàn trồng hoa (dây leo) được không? Làm giàn có vi phạm việc cơi nới không? Tuan Nguyen (anhtuan_phaner@...)

Trả lời

- Về việc xin phép xây dựng làm mái che trên sân thượng

Theo thư trình bày, căn nhà của ông/bà thuộc lầu 1, tầng trệt thuộc sở hữu của người khác, mái nhà là mái bêtông cốt thép, phía trên là sân thượng có lan can cao 0,8m.

Căn cứ điểm g khoản 1 điều 4 Quyết định 68/2008/NĐ-CP ngày 14/9/2010 của UBND Tp.HCM, đối với việc sửa chữa, cải tạo, lắp đặt thiết bị bên trong căn nhà mà không làm thay đổi kiến trúc, kết cấu chịu lực và an toàn của công trình; hay việc nâng nền, nâng gác, nâng mái phù hợp với tiêu chuẩn xây dựng; hay việc xây dựng lại tường bao che bị hư hỏng theo nguyên trạng, gia cố, cải tạo chống nghiêng, lún, nứt không làm thay đổi quy mô diện tích, không làm ảnh hưởng đến kết cấu thì không phải xin phép xây dựng.

Do đó, việc làm mái che trên sân thượng không thuộc trường hợp không có giấy phép xây dựng trước khi khởi công xây dựng.

Vì vậy, trước khi khởi công làm mái che trên sân thượng, ông/bà phải xin giấy phép xây dựng tại UBND quận Bình Thạnh, nơi đây sẽ xem xét giải quyết việc cấp phép cho ông/bà hay không theo quy định của pháp luật.

Theo thư trình bày, trước đây ông/bà xin phường để làm mái vòm trên sân thượng là không đúng thẩm quyền, vì việc xem xét có cấp phép xây dựng cho ông/bà hay không là thuộc thẩm quyền của UBND quận Bình Thạnh (căn cứ Điều 17 Quyết định 68/2008/NĐ-CP ngày 14/9/2010).

- Về việc hỏi ý kiến của người sở hữu ở tầng trệt khi xin phép xây dựng tại sân thượng

Để giải quyết vấn đề trên, ông/bà cần xác định phần diện tích thuộc sân thượng có thuộc sở hữu của ông/ bà hay không, bằng cách xem trên giấy chứng nhận chủ quyền, ông/ bà có được công nhận phần diện tích sân thượng hoặc khi mua hóa giá, ông/ bà có đóng tiền mua nhà cho phần diện tích này hay không.

Nếu phần diện tích thuộc sân thượng được công nhận là phần sở hữu riêng cho ông/bà, thì khi xin giấy phép xây dựng ông/bà không cần phải có ý kiến chấp nhận của chủ sở hữu tầng trệt, ngược lại, nếu diện tích sân thượng là sở hữu chung của hai căn hộ thì ông/ bà phải có ý kiến đồng ý của người chủ sở hữu tầng trệt (căn cứ điều 225 Bộ Luật dân sự).

- Về việc ông bà muốn làm giàn hoa dây leo trên sân thượng

Theo thư trình bày, mục đích của việc làm giàn hoa dây leo trên sân thượng là để làm giảm bớt sức nóng trực tiếp từ sân thượng xuống căn nhà.

Với trường hợp này, Quyết định 68/2008/NĐ-CP ngày 14/9/2010 của UBND Tp.HCM không quy định cụ thể về vấn đề này có thuộc trường hợp phải xin phép hay miễn xin giấy phép xây dựng.

Nhưng theo ý kiến riêng và kinh nghiệm của luật sư, chúng tôi nhận thấy rằng nếu ông/bà làm giàn dây leo bằng dây kẽm thì việc này không làm ảnh hưởng đến kết cấu của ngôi nhà, nên không thuộc trường hợp phải xin phép. Mặt khác, chúng tôi nhận thấy ông/bà trồng cây loại dây leo để chống nắng là chưa thật sự hiệu quả, vì hiện nay trên thị trường có loại lưới che cho giàn hoa lan giảm được ánh nắng rất tốt, ông/ bà có thể sử dụng loại lưới này để làm giảm bớt ánh nắng cho ngôi nhà của mình. Đây chỉ là gợi ý của chúng tôi, ông/ bà có thể tham khảo thêm ý kiến của các nhà chuyên môn về xây dựng cho việc dùng loại vật liệu nào phù hợp nhất trong trường hợp của ông/bà.
Luật sư Phạm Đình Sơn
Theo TTO

Vợ chồng không ly hôn có được chia tài sản chung?

Unknown | 21:24 | 0 nhận xét

Hỏi: Tôi và chồng có 2 tài sản chung là nhà đất ở quận Đống Đa và Thanh Xuân, do muốn làm ăn riêng nên chúng tôi muốn chia tài sản chung? Chúng tôi có phải làm thủ tục ly hôn không? (Nguyễn Huy Thắng; Email: Thang_8401@gmail.com).

Trả lời

Tại Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung... Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận”.

Theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ, hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình thì thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải được lập thành văn bản và ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản, có chữ ký của cả vợ và chồng, đồng thời ghi rõ các nội dung sau: lý do chia tài sản; phần tài sản chia (bất động sản, động sản, các quyền tài sản, trong đó cần mô tả những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia; phần tài sản còn lại không chia, nếu có); thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung; các nội dung khác, nếu có. Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng có thể có người làm chứng hoặc được công chứng.

Như vậy, theo quy định nêu trên thì vợ chồng bạn không phải tiến hành thủ tục ly hôn mà vẫn chia được tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Để tiến hành thủ tục nêu trên bạn liên hệ trực tiếp đến Phòng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội để tiến hành thủ tục công chứng biên bản thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Khi tới phòng công chứng bạn và chồng bạn mang theo nhưng tài liệu sau: CMND; hộ khẩu của vợ chồng; Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; 02 Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất.
Luật sư Vũ Thị Hiên
Theo Dantri

Có được thay chồng khai nhận thừa kế không?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Trước khi mất bố mẹ chồng tôi có di chúc để lại nhà đất cho các con. Nay em chồng muốn tiến hành chia di sản, nhưng chồng tôi đang ở nước ngoài. Tôi có thể thay mặt chồng tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế không? (Nguyễn Hồng Hà ; Email: Hahongnguyen@gmail.com).

Trả lời

Trường hợp chồng bạn không có mặt tại Việt Nam để tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế thì chồng bạn có thể ủy quyền cho bạn đứng ra thay mặt chồng bạn tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế.

Bạn liên hệ trực tiếp phòng công chứng nơi có di sản để được hướng dẫn cụ thể, phòng công chứng sẽ cho bạn mẫu nội dung ủy quyền, sau đó bạn gửi mail cho chồng bạn. Việc ủy quyền được thực hiện tại cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại nước mà chồng bạn đang công tác.

Sau khi có Giấy ủy quyền của chồng bạn gửi về thì bạn cùng với những đồng thừa kế khác đến phòng công chứng để yêu cầu tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.

Để tiến hành thủ tục khai nhận di sản tại Phòng công chứng yêu cầu bạn phải xuất trình những giấy tờ sau: Giấy chứng tử của bố mẹ chồng bạn; chứng minh nhân dân; hộ khẩu của các đồng thừa kế; Giấy khai sinh để chứng minh quan hệ với người để lại di chúc; Hợp đồng ủy quyền; chứng minh nhân dân; hộ khẩu của bạn; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

Phòng công chứng sẽ soạn Thông báo để bạn mang tới Ủy ban nhân dân phường, xã để họ tiến hành thủ tục niêm yết, sau 30 ngày niêm yết thông báo nếu không có khiếu nại, tố cáo gì thì bạn mang thông báo đó quay lại phòng công chứng để tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế.

Luật sư Vũ Thị Hiên
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẠI VIỆT

Theo Dân trí