Hiển thị các bài đăng có nhãn thừa kế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thừa kế. Hiển thị tất cả bài đăng

Tranh chấp tài sản thừa kế giữa anh chị em ruột

Unknown | 18:45 | 0 nhận xét
Hỏi: Trước đây ba mẹ tôi có mua nhà bằng giấy tay và sau có làm hộ khẩu do ba tôi đứng tên chủ hộ. Do ba mẹ lớn tuổi và tôi cũng là con út trong nhà nên ba mẹ muốn tôi đứng tên căn nhà đồng thời làm chủ hộ.

Tôi làm giấy tờ đứng tên quyền sở hữu nhà, ba mẹ tôi cũng biết điều đó và không có ý kiến gì. Vậy hỏi luật sư trường hợp này, các anh và chị của tôi có được hưởng phần di sản thừa kế từ ngôi nhà này khi ba mẹ tôi mất? Lê Bá (Hà Nội)

Trả lời:

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Vì giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở đứng tên bạn nên thuộc quyền quản lý, sử dụng và định đoạt của bạn.

Nếu việc bố mẹ bạn tặng cho bạn ngôi nhà là có thật và bạn thực hiện đầy đủ hồ sơ và thủ tục tại Cơ quan quản lý nhà ở cấp quận/huyện trong khi làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất ở thì việc sở hữu nhà của bạn là hoàn toàn hợp pháp, bố mẹ của bạn không còn liên quan đến quyền sở hữu ngôi nhà, do đó anh chị em của bạn không có quyền yêu cầu chia thừa kế từ ngôi nhà sau khi bố mẹ bạn qua đời.

Thủ tục tặng cho tài sản là nhà, đất được tiến hành theo quy định của pháp luật với những hồ sơ chuyển dịch quyền sở hữu nhà ở do tặng cho như sau:

- Hợp đồng tặng cho có chứng nhận của công chứng Nhà nước;

- Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở của bên tặng cho;

- Bản khai nộp thuế thu nhập cá nhân và Bản khai nộp lệ phí trước bạ nhà, đất (do cơ quan quản lý nhà ở cung cấp tại nơi tiếp nhận hồ sơ);

- Bản sao Sổ hộ khẩu, Giấy khai sinh nếu các bên tặng cho có quan hệ gia đình như: Cha mẹ, con, anh chị em ruột để làm cơ sở miễn thuế chuyển quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (sổ đỏ) có thể bị xem xét lại nếu có sự khai báo nguồn gốc tài sản không trung thực hoặc do sơ suất thiếu trách nhiệm của cơ quan cấp sổ đỏ đã không xem xét kỹ và thực hiện theo đúng thủ tục theo quy định của pháp luật.

Trường hợp có khiếu nại hoặc khởi kiện mà phát hiện ra sự việc này, theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì quyền sở hữu ngôi nhà của bạn có thể bị hủy bỏ và ngôi nhà này vẫn thuộc quyền sở hữu của bố mẹ bạn và được chia thừa kế theo quy định của pháp luật thừa kế nếu bố mẹ bạn không để lại di chúc.

Luật sư Nguyễn Phú Thắng
Theo GiadinhNet

Khởi kiện chia lại tài sản thừa kế như thế nào?

Unknown | 18:41 | 0 nhận xét
Câu hỏi: 

Cho em hỏi về viêc phân chia tài sản. Gia đình ông bà nội em sinh được hai anh em trai không có con riêng nào hết. Ông nội em chết khi bố em còn nhỏ bà nội em chết năm 1998 có để lại tài sản là một ngôi nhà và diện tích đất sử dụng là 880m2 nhưng không có di chúc thừa kế cho ai cả. Vậy mà đến năm 2005 chú là em ruột của bố em tự sang tên quyền sử dúng đất sang têt chú em. Vậy đến nay năm 2012 bố em kiện có được không. Nếu kiện được thì bao nhiêu phân trăm thắng kiện và toà sẽ giải quyết ra sao. Em mong các luật sư tư vấn giúp em. Em rất chân thành cảm ơn các luật sư. 
Trả lời:

Theo quy định tại Điều 645 Bộ luật dân sự 2005 thì “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế…..”. Theo như bạn trình bày thì thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di sản mà ông bà nội bạn đã hết. Tuy nhiên, Theo mục 2.4 Mục I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/08/2004 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế thì có những trường hợp cụ thể không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, cụ thể như sau:

“ Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau: a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.

Như vậy, trong trường hợp này bố bạn muốn yêu cầu được chia tài sản chung mà ông bà nội bạn để lại cho bố và chú bạn, có thể yêu cầu Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có tài sản là nhà và đất nói trên để yêu cầu chia tài sản chung của bố và chú bạn.

Bị truất quyền thừa kế nếu làm giả di chúc

Unknown | 18:38 | 0 nhận xét
Hỏi: Ba chồng tôi mất đột ngột năm 2011 không trăn trối gì lại, chồng tôi trong lúc thiếu suy nghĩ đã làm giả di chúc của cha để được thừa kế căn nhà...

Mới rồi chị chồng và em chồng tôi biết chuyện nên định tố cáo. Xin hỏi nếu chia lại di sản, chồng tôi có bị truất quyền thừa kế và liệu có bị xử tù không?

Hoa Sen (hoasensg2008@....)

Trả lời:

Theo quy định tại điểm d khoản 1 điều 643 bộ luật Dân sự năm 2005 thì những người sau đây không được quyền hưởng di sản: “… Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản”. Nếu chị và em chồng bà chứng minh được việc chồng bà giả mạo chữ viết, chữ ký cha mình để hưởng một phần hoặc toàn bộ tài sản của cha thì chồng bà sẽ mất quyền hưởng di sản.

Trường hợp chồng bà không những giả mạo chữ ký, chữ viết của cha mà còn làm giả tài liệu, con dấu của uỷ ban nhân dân xã/phường hoặc phòng công chứng để lập di chúc dưới hình thức chứng thực hoặc công chứng nhằm lừa dối cá nhân, cơ quan, tổ chức để chiếm đoạt tài sản, thì chồng bà có thể còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo quy định của luật Hình sự.

Ls Bùi Bảo Trâm, Đoàn Luật sư Tp.HCM
Theo SGTT

Những người thừa kế có quyền định đoạt căn nhà?

Unknown | 09:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Cha mẹ tôi chết có để lại một căn nhà không có di chúc. Sau đó, chị ruột tôi chết. Bây giờ, con trai của chị ấy đòi tôi bán căn nhà của ông bà ngoại để chia thừa kế, nếu không sẽ kiện ra Tòa.
Xin hỏi, cháu tôi yêu cầu như vậy đúng hay sai? (Hồ Thị Mỵ Nương, đường số 77, phường Tân Quy, quận 7, Tp.HCM)

Trả lời

Theo Điều 674 Bộ luật Dân sự, thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế theo pháp luật quy định. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật là căn nhà được bán để chia.

Theo đó, căn nhà trên là tài sản thuộc sở hữu của nhiều đồng thừa kế, trong đó có người chị ruột của bà. Khi người chị qua đời không có di chúc, phần nhà thừa kế của chị ấy thuộc quyền sở hữu của những người thừa kế theo pháp luật của người chết, trong đó có con trai của chị ấy (tức cháu ruột của bà). Tất cả những người thừa kế căn nhà trên có quyền thỏa thuận với nhau về việc phân chia di sản theo các phương án nêu trên. Trường hợp không thể thương lượng được thì các bên có quyền khởi kiện ra TAND cấp huyện, nơi có căn nhà để được xem xét, giải quyết..
Luật gia Nguyễn Văn Khôi
Theo Công lý

Tranh chấp quyền thừa kế ngôi nhà 30 tỷ đồng

Unknown | 09:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Bố mẹ tôi sinh được 6 người con (2 trai và 4 gái). Sau khi ông bà mất đi để lại tài sản là một ngôi nhà trị giá ước tính là 30 tỷ VNĐ. Giấy tờ nhà hiện giờ vẫn để tên ông bà...
Theo như chúng tôi được biết thì ông bà không để lại di chúc. Hiện nay, giữa các anh chị em đã có sự xích mích trong vấn đề chia tài sản đó. Hai anh trai cả muốn chiếm căn nhà để ở và sau này khi chết đi sẽ để lại cho con cái anh ấy nhưng các em thì không đồng ý. Các anh đã dùng những hành động thiếu văn hóa, thiếu tình cảm để đe dọa các em. Sau khi không thành công hai anh đã đưa ra một bản di chúc nói là của ông để lại và được các em đánh giá là làm giả.

Các em yêu cầu là cho xin bản di chúc đó (bản photo cũng được) nhưng các anh nhất mực từ chối và nói là để khi nào sửa nhà xong sẽ đưa cho xem. Nội dung bản di chúc được đưa ra đó là chúng tôi được 1/10 giá trị ngôi nhà đó nhưng với điều kiện ngôi nhà đó được bán. Nhưng chúng tôi biết các anh sẽ không bán ngôi nhà đó vì ngôi nhà đó ở vị trí kinh doanh rất tốt và kinh tế các anh đủ dư dả để không cần phải bán nhà để sống.

Hiện tại, ba em gái út quyết đưa vụ việc này ra tòa nhờ được xét xử để lấy lại công bằng. Tôi mong luật sư có thể giải đáp giúp tôi những thắc mắc sau:

- Khi các anh chúng tôi sửa nhà chúng tôi phải làm những gì để ngăn việc này khi ngôi nhà đang xảy ra tranh chấp?

- Các thủ tục để gửi đơn kiện và phải gửi đơn kiện đến những các cơ quan chức năng nào?

- Mức phí chúng tôi phải trả để kiện?

- Khả năng thắng kiện của chị em tôi có cao không?

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật, khi bố mẹ bạn mất mà không để lại di chúc, phần di sản để lại sẽ được chia theo pháp luật khi có yêu cầu (hoặc khi các đồng thừa kế không thỏa thuận được sự phân chia di sản thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết).

Theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự: Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Do vậy, trường hợp của bạn vừa nêu, thì 6 anh em của bạn sẽ là những người được hưởng di sản thừa kế đó và sẽ được hưởng phần bằng nhau.

Vì vậy, việc tranh chấp di sản thừa kế của bạn có thể nộp tại tòa án nhân dân huyện (nếu các anh chị em không có người nào ở nước ngoài) để được thụ lí giải quyết. Các thủ tục để gửi đơn kiện:

+ Đơn khởi kiện (theo mẫu)

+ Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: giấy khai sinh,chứng minh nhân dân, giấy chứng nhận kết hôn,sổ hộ khẩu để xác định diện và hàng thừa kế.

+ Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế

+ Bản kê khai các di sản

+ Các giấy tờ,tài liệu chứng minh sở hữu của người để lại di sản và nguồn gốc di sản của người để lại di sản.

+ Các giấy tờ khác nếu có liên quan.

c.Mức án phí mà bạn phải nộp: đây là vụ án dân sự có giá ngạch, việc đóng tạm ứng án phí dựa trên giá trị tài sản tranh chấp. Bạn có thể tham khảo thêm tại quy định của pháp lệnh về phí, án phí của tòa án.

d. Khi tòa án đã thụ lí đơn kiện của bạn thì bạn có thể yêu cầu tòa án áp dụng các biện pháp khắc phục tạm thời theo quy định tại Điều 110 Bộ luật tố tụng dân sự:

Điều 110 Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp:

Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó.

Bạn cũng cần lưu ý là theo Ðiều 645 Bộ luật dân sự về Thời hiệu khởi kiện về thừa kế thì: Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Vì vậy, bạn cũng cần xem xét về thời gian khởi kiện vẫn nằm trong thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản.
VP luật sư Giải Phóng
Theo Vietnamnet

Có được khai nhận thừa kế đất nằm trong quy hoạch?

Unknown | 00:09 | 0 nhận xét

Hỏi: Năm 2009 bố tôi mất và có để lại một thửa đất ở quận Đống Đa, Hà Nội. Thửa đất này đã được cấp sổ đỏ mang tên cả bố và mẹ tôi. Tôi thấy ở mục ghi chú có ghi: “đất nằm trong khu quy hoạch”.
Xin luật sư cho biết: Gia đình tôi có thể tiến hành thủ tục khai nhận di sản trong trường hợp này được không? (Hoàng Đại, phố Kim Mã, quận Ba Đình, Hà Nội).

Trả lời:

Điều 106 Luật Đất đai quy định: “Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất:

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất... khi có các điều kiện sau đây: Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Đất không có tranh chấp; Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;  Trong thời hạn sử dụng đất”.

Theo đó, bạn có thể làm các thủ tục để khai nhận di sản thừa kế của bố bạn để lại khi có đủ 2 tiêu chí:

1. Nhà bạn có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 2. Đất đó thuộc diện quy hoạch nhưng chưa có quyết định thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền.

Bạn có thể đến các phòng TN&MT nơi cư trú để được hướng dẫn chi tiết.
Luật sư Vũ Văn Lợi
Theo PLXH

Chia thừa kế trên đất hương hỏa

Unknown | 10:30 | 0 nhận xét

Hỏi: Ông bà ngoại tôi đã mất từ lâu, ông có 6 người con trong đó mẹ tôi là con cả. Năm nay mẹ tôi 74 tuổi, các cậu mợ, gì, chú vẫn còn sống. Trên miếng đất hương hỏa của ông bà ngoại tôi chỉ có mình cậu mợ trưởng đang sử dụng.
Cậu mợ tôi có 5 người con, 3 trai, 2 gái, đầu năm nay cậu mợ chia cho 2 cô con gái 2 miếng đất. Từ đó mọi sự bình yên của gia đình tôi bị phá vỡ. Bố mẹ tôi, các cậu mợ, gì, chú đều thống nhất đòi 1 phần trên miếng đất hương hỏa đó. Rất mong chuyên mục giải đáp về mặt pháp lý giúp tôi

Trả lời

Theo như bạn trình bày thì khi ông bà ngoại bạn chết đi không để lại di chúc, do đó số di sản mà ông bà bạn để lại sẽ được chia theo pháp luật. Theo quy định tại Điều 675 Bộ luật dân sự 2005 thì những người thừa kế theo pháp luật sẽ là:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy những người thừa kế theo pháp luật của ông bà ngoại bạn là mẹ bạn và các cậu, các dì của bạn. Số di sản mà ông bà bạn để lại sẽ được chia đều cho 6 người con, do đó cậu bạn tự để lại 2 miếng đất cho con gái mà không có sự đồng ý của những người đồng thừa kế khác là không có căn cứ.
Theo Địa ốc

Cháu đích tôn có được hưởng thừa kế của ông bà?

Unknown | 10:30 | 0 nhận xét
Tôi có câu hỏi về quyền thừa kế, kính mong Luật sư trả lời giúp. Sau khi bà tôi mất, thì một thời gian sau ba tôi cũng mất. Nhà tôi hiện giờ còn ông nội và 5 người con, kể cả ba tôi là 6 người ( trong đó có hai người định cư ở nước ngoài). 

Vừa qua, ông nội tôi có làm di sản thừa kế hay di chúc gì đó cho các con, nhưng không có phần của ba tôi. Nay ông tôi muốn bán nhà và đất để chia mà cũng không có phần của ba tôi.

Thưa luật sư, xin hỏi:

1/ Bà tôi mất, vậy tôi là cháu nội đích tôn , tôi có được hưởng phần của ba tôi không? Vì trước khi bà tôi mất thì ba mẹ tôi đã ly hôn.

2/ Nếu ông nội tôi làm di chúc chia tài sản cho các con mà không có phần của ba tôi , như vậy có đúng không ?Xin cảm ơn chuyên mục 

Kính gửi: Quý bạn đọc

Trong trường hợp này cần xác định rõ phần tài sản mà ông của bạn quyết định bán có phải là tài sản riêng của ông hày không? Nếu đây là phần tài sản riêng thì ông của bạn hoàn toàn có quyền định đoạt đối với phần tài sản này.

Nếu phần tài sản này là tài sản chung của ông bà trong thời kỳ hôn nhân thì bà của bạn cũng có quyền sở hữu đối với phần tài sản này (một nữa trong khối tài sản chung). Vì vậy khi bà của bạn chết mà không để lại di chúc thì phần di sản mà bà bạn để lại sẽ được chia theo pháp luật khi có yêu cầu. Theo quy định tại Điều 676 Bộ luật Dân sự quy định về những người thừa kế theo pháp luật như sau: 1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Như vậy ba của bạn cũng được hưởng phần di sản thừa kế theo pháp luật này. Ba của bạn chết thì phần của ba bạn sẽ được chia theo pháp luật theo điều 676 của luật này. Vì vậy bạn vẫn có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế đối với phần mà mình được hưởng. Bạn cũng cần lưu ý thêm về thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế: điều 645 Bộ luật dân sự quy định: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Đối với phần tài sản riêng của ông bạn, ông bạn có quyền để lại di chúc hoặc bán tài sản trên để tặng cho bất kể chủ thể nào là do ông bạn quyết định và không nhất thiết phải tặng cho bạn hoặc bố bạn.

Có thể khởi kiện chia lại tài sản thừa kế không?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét
Câu hỏi: 

Cha mẹ chúng tôi khi mất không để lại di chúc (cha mất năm 1999), anh trai trưởng của chúng tôi tự ý chuyển toàn bộ quyền sử dụng đất của cha mẹ mang tên anh mà không hề bàn bạc với chúng tôi (chúng tôi cũng không rõ anh làm QĐ chuyển quyền sở hữu đất năm nào). Sau này trước khi mất anh mới gọi chúng tôi về nói và dặn là phần đất cha mẹ chúng tôi để lại sẽ chia làm 3: 1 phần cho cháu đích tôn (con của anh cả), 1 phần làm nhà thờ và 1 phần bán lấy tiền làm nhà thờ, nghĩ cũng hợp lý vì chúng tôi nay đã có nhà cửa riêng. Nhưng nay vợ của anh trai cả và các con anh lật lọng đòi toàn bộ đất đó với lý do sổ đỏ mang tên ai người đó có quyền quyết định. Việc làm của anh trai cả chúng tôi có đúng pháp luật không? Và chúng tôi có thể kiện để chia lại đất của cha mẹ chúng tôi để lại theo quyền thừa thế Bộ luật dân sự được hay không? Mong Luật sự tư vấn giúp. 

Kính gửi Quý bạn đọc

Sau khi xem xét tình huống bạn nêu, chúng tôi thấy việc làm của anh trai cả bạn là không đúng quy định của pháp luật.

Về việc khởi kiện chia lại đất của cha mẹ bạn chúng tôi có ý kiến như sau:

Cha bạn mất 1999, đến nay đã hơn 12 năm (Do bạn không nói rõ nên chúng tôi không biết mẹ bạn mất vào thời điểm nào, chúng tôi giả thiết mẹ bạn mất cũng đã được hơn 10 năm). Theo qui định tại Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu chia di sản là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (tức thời điểm bố mẹ bạn mất). Do đó, thời hiệu để bạn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đã hết. 

Tuy nhiên, Hội đồng thẩm phán TAND tối cao có ban hành Nghị quyết 02/2004 ngày 10/08/2004 để hướng dẫn về 2 trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện thừa kế như qui định của Bộ luật dân sự. Cụ thể như sau: 

“1. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

1.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

1.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ. 1.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

2. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.”

Đối chiếu với qui định trên thì bạn và các anh/chị em còn lại có thể và có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án chia tài sản chung của bố mẹ bạn trong khối tài sản chung đã được xác định.

Tính hạn mức đất ở đối với trường hợp thừa kế

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Năm 1989 mẹ tôi được cấp 140m2 đất tại quận Tân Bình, do lô đất này là lô cuối cùng trong sơ đồ phân lô của đơn vị và tại thời điểm đó vùng này hoang vắng nên khi nhận nền, các cán bộ giao đất đã cho phép mẹ tôi được sử dụng phần đất thừa bên cạnh (khoảng 120m2).
Mẹ tôi đã xây hàng rào bao quanh khu đất (140m2 được cấp và 120m2 dư) để ở từ năm 1989 đến nay, không hề có tranh chấp. Diện tích xây nhà hơn 100m2, còn lại là sân. Năm 1997 mẹ tôi mất, hai anh em chúng tôi là người được hưởng thừa kế (ông bà nội ngoại và cha tôi đều đã qua đời). Đến năm 2011 chúng tôi mới tiến hành nộp hồ sơ xin chủ quyền nhà, một người đại diện đứng tên.

Khi làm hồ sơ văn phòng dịch vụ (chúng tôi thuê làm) đã căn cứ vào giấy phép xây dựng (trên giấy phép ghi rõ “để hợp thức hóa”) cấp năm 1994 để xác định 120m2 tăng thêm so với quyết định là đất lấn chiếm từ năm 1994 (thực chất là từ năm 1989). Vì thế lô đất của chúng tôi vượt hạn mức là (140m + 120m) - 160m = 100m2. Theo luật, chúng tôi phải đóng tiền vượt hạn mức cho 100m2 này.

Hiện nay chúng tôi đã nhận được sổ hồng và ghi nợ nghĩa vụ tài chính (vì chưa có mức giá tính thuế). Vậy xin hỏi việc xác định thời điểm lấn chiếm như vậy đã đúng chưa? Nếu thời điểm lấn chiếm từ năm 1989 thì chúng tôi có phải đóng vượt hạn mức? Mức đóng bao nhiêu?

Anh em chúng tôi đều đang công tác tại cơ quan nhà nước (chưa được cấp nhà/đất) có được xét để tăng hạn mức không? Nếu chúng tôi chưa có tiền để đóng thuế thì có được phép sửa chữa, xây dựng hay tách thửa không?

Pham Minh, (nhatoi_08@...)

Trả lời

Về việc đóng tiền sử dụng đất vượt hạn mức có nguồn gốc do lấn chiếm.

1. Về việc thời điểm lấn chiếm đất có ảnh hưởng đến việc đóng tiền sử dụng đất vượt hạn mức hay không.

Căn cứ điểm a, b khoản 5 Điều 2 nghị định 120/2010/NĐ - CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ, phần diện tích đất lấn chiếm vượt hạn mức giao đất ở, người sử dụng đất phải đóng tiền sử dụng đất theo giá đất ở do UBND cấp tỉnh quy định phù hợp với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tại thời điểm cấp giấy chứng nhận áp dụng cho cả hai trường hợp lấn chiếm trước và sau ngày 15/10/1993.

Căn cứ khoản 1, Điều 2 quyết định 28/2012/QĐ - UBND ngày 6/7/2012 của UBND Tp.HCM, mức đóng tiền sử dụng đất vượt hạn mức đối với đất đang sử dụng là đất ở thuộc khu dân cư sẽ được tính bằng giá đất ở do UBND thành phố quy định nhân với hệ số hai.

Căn cứ vào hai quy định nêu trên, đối với đất có nguồn gốc lấn chiếm vượt hạn mức, cho dù thời điểm lấn chiến trước hay sau ngày 15/10/1993 thì người sử dụng đất đều phải đóng tiền sử dụng đất đối với phần diện tích này với mức đóng như nhau. Ông có thể tham khảo quy định trên để xác định mức đóng tiền sử dụng đất cho thửa đất của mình.

2. Về hạn mức đất ở đối với trường hợp thừa kế.

Căn cứ Điều 2 quyết định 64/2001/QĐ - UBND ngày 30/7/2001 của UBND Tp.HCM, khu vực quận Tân Bình có hạn mức đất ở không quá 160m2/hộ, mức này áp dụng cho hộ gia đình, cá nhân để thu tiền sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sử dụng nhà ở (giấy chứng nhận chủ quyền),…

Quy định nêu trên không nói rõ hạn mức này có được tính trên cá nhân mỗi người thừa kế trong một căn nhà hay không. Do đó, luật sư không thể trả lời cho ông về nội dung trên.

3. Quyền định đoạt, sửa chữa xây dựng nhà khi chưa đóng tiền sử dụng đất.

Theo kinh nghiệm của luật sư, khi ông chưa hoàn tất nghĩa vụ tài chính, ông không thể thực hiện mua bán, sang nhượng, tặng cho, tách thửa nhà đất, nhưng ông vẫn có thể xin phép xây dựng để xây dựng, sửa chữa nhà.

Trân trọng!
Luật sư PHẠM ĐÌNH SƠN
Theo Tuổi trẻ

Cha mẹ có quyền không cho con thừa kế nhà

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét
Hỏi: Cha mẹ tôi có một căn nhà, đã có sổ hồng. Cha mẹ tôi có hai con gái, tôi và một người em nữa. Cha mẹ tôi đã đến UBND phường lập di chúc để lại ngôi nhà cho một người cháu, mà không cho hai người con.
Xin hỏi, cha mẹ tôi có quyền làm như vậy không?

Thân Thị Mỹ Phượng (Đường Nguyễn Lương Bằng, phường 2, Tp. Đà Lạt, Lâm Đồng)

Trả lời:

Theo Điều 631 BLDS 2005, cá nhân có quyền lập di chúc để định đọat tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Tuy nhiên, Điều 669 BLDS 2005 cũng có quy định: “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản…: 1) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; 2) Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”.

Như vậy, cha mẹ bà có quyền lập di chúc hợp pháp để lại nhà cho người cháu và nếu hai chị em bà không thuộc đối tượng nêu trên (còn ông bà nội ngoại đã qua đời) thì người cháu được thừa kế trọn căn nhà.
Luật gia Nguyễn Văn Khôi
Theo Công lý

Cha mẹ có quyền không cho con thừa kế nhà

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Cha mẹ tôi có một căn nhà, đã có sổ hồng. Cha mẹ tôi có hai con gái, tôi và một người em nữa. Cha mẹ tôi đã đến UBND phường lập di chúc để lại ngôi nhà cho một người cháu, mà không cho hai người con.
Xin hỏi, cha mẹ tôi có quyền làm như vậy không?

Thân Thị Mỹ Phượng (Đường Nguyễn Lương Bằng, phường 2, Tp. Đà Lạt, Lâm Đồng)

Trả lời:

Theo Điều 631 BLDS 2005, cá nhân có quyền lập di chúc để định đọat tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Tuy nhiên, Điều 669 BLDS 2005 cũng có quy định: “Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản…: 1) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; 2) Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”.

Như vậy, cha mẹ bà có quyền lập di chúc hợp pháp để lại nhà cho người cháu và nếu hai chị em bà không thuộc đối tượng nêu trên (còn ông bà nội ngoại đã qua đời) thì người cháu được thừa kế trọn căn nhà.
 
Luật gia Nguyễn Văn Khôi
Theo Công lý

Con riêng có được hưởng thừa kế?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Sau khi cha, mẹ tôi ly hôn, mẹ tôi đã kết hôn với người khác. Tôi sống với mẹ và cha dượng từ năm 1994 và cha dượng tôi có làm thủ tục nhận tôi làm con nuôi...
Năm 2011, cha tôi bị ốm bệnh qua đời và không có di chúc. Lúc này, con riêng của cha có với người vợ trước đã chiếm cả hai ngôi nhà và không cho mẹ con tôi được hưởng di sản thừa kế. Vậy, theo quy định của pháp luật, mẹ con tôi có được hưởng thừa kế không?  

Trần Đình Sửu (Bảo Lộc, Lâm Đồng) 

Trả lời:

Trường hợp cha dượng bạn chết không để lại di chúc thì việc thừa kế thuộc trường hợp thừa kế theo pháp luật. Theo quy định tại Điều 674, điểm a khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 thì vợ, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết thuộc hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng di sản thừa kế của cha dượng bạn để lại. Do đó, nếu mẹ bạn kết hôn hợp pháp với cha dượng bạn theo thì theo quy định nêu trên và quy định tại Điều 31 Luật hôn nhân gia đình năm 2000, mẹ bạn có quyền hưởng thừa kế di sản do cha dượng bạn để lại.  

Con riêng có được hưởng thừa kế? | ảnh 1
Việc thừa kế tài sản được quy định rõ trong luật

Đối với trường hợp của bạn, nếu cha dượng nhận bạn làm con nuôi theo đúng quy định của pháp luật thì theo quy định nêu trên, bạn có quyền hưởng di sản thừa kế. Trường hợp, nếu bạn không được công nhận là con nuôi hợp pháp theo quy định của pháp luật thì bạn chỉ được xem là con riêng của mẹ bạn trong gia đình. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 679 BLDS, dù bạn là con riêng của mẹ bạn nhưng nếu bạn có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng đối với bố dượng như cha con thì bạn được thừa kế di sản của cha dượng bạn để lại.

Đồng thời, về tài sản mà bạn nói là do cha dượng bạn để lại nhưng bị hai người anh chiếm hữu, sử dụng thì cần xác định tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của cha dượng bạn mới có thể đem chia cho những người được hưởng thừa kế. Bởi lẽ, nếu trong khối tài sản đó có những tài sản thuộc tài sản chung của hai vợ chồng thì phần thuộc về mẹ bạn không thể đem để chia thừa kế. Tương tự, nếu hai người anh hoặc bạn có tài sản riêng thì những tài sản đó thuộc riêng hai người anh bạn và không được đem chia thừa kế.

Như vậy, đối chiếu với các quy định chúng tôi viện dẫn trên, nếu mẹ bạn và bạn được quyền hưởng di sản thừa kế, hoặc mẹ bạn có quyền sở hữu, sử dụng tài sản chung với cha dượng bạn lúc còn sống mà con riêng của cha dượng bạn chiếm hữu, sử dụng và không chia thừa kế cho mẹ bạn và bạn; hoặc không trả lại cho mẹ bạn tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của mẹ bạn là trái quy định của pháp luật.
Luật sư Võ Công Hạnh- Công ty Luật hợp danh FDVN
Theo VietQ

Có được thay chồng khai nhận thừa kế không?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Trước khi mất bố mẹ chồng tôi có di chúc để lại nhà đất cho các con. Nay em chồng muốn tiến hành chia di sản, nhưng chồng tôi đang ở nước ngoài. Tôi có thể thay mặt chồng tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế không? (Nguyễn Hồng Hà ; Email: Hahongnguyen@gmail.com).

Trả lời

Trường hợp chồng bạn không có mặt tại Việt Nam để tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế thì chồng bạn có thể ủy quyền cho bạn đứng ra thay mặt chồng bạn tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế.

Bạn liên hệ trực tiếp phòng công chứng nơi có di sản để được hướng dẫn cụ thể, phòng công chứng sẽ cho bạn mẫu nội dung ủy quyền, sau đó bạn gửi mail cho chồng bạn. Việc ủy quyền được thực hiện tại cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại nước mà chồng bạn đang công tác.

Sau khi có Giấy ủy quyền của chồng bạn gửi về thì bạn cùng với những đồng thừa kế khác đến phòng công chứng để yêu cầu tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.

Để tiến hành thủ tục khai nhận di sản tại Phòng công chứng yêu cầu bạn phải xuất trình những giấy tờ sau: Giấy chứng tử của bố mẹ chồng bạn; chứng minh nhân dân; hộ khẩu của các đồng thừa kế; Giấy khai sinh để chứng minh quan hệ với người để lại di chúc; Hợp đồng ủy quyền; chứng minh nhân dân; hộ khẩu của bạn; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở.

Phòng công chứng sẽ soạn Thông báo để bạn mang tới Ủy ban nhân dân phường, xã để họ tiến hành thủ tục niêm yết, sau 30 ngày niêm yết thông báo nếu không có khiếu nại, tố cáo gì thì bạn mang thông báo đó quay lại phòng công chứng để tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế.

Luật sư Vũ Thị Hiên
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐẠI VIỆT

Theo Dân trí

Em gái có quyền không cho chị hưởng thừa kế?

Unknown | 21:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Ba, mẹ tôi mất đột ngột không để lại di chúc, nhà có 4 chị em. Tôi đi lấy chồng được vài năm thì ba mẹ và em trai tôi mất, nhà còn lại tôi là chị cả và hai em gái.
Vì kinh tế nhà tôi eo hẹp do chồng mắc bệnh hiểm nghèo, con nhỏ nên tôi không có điều kiện giúp đỡ hai em.

Sau khi chồng tôi mất vì bệnh tim, tôi có cùng con gái chuyển về ngôi nhà của bố mẹ sống nhưng em gái kế tôi (đã lấy chồng) không đồng ý cho tôi và con tôi ở với lý do bố mẹ và em trai tôi mất, tôi không đứng ra lo liệu hậu sự nên tôi không có quyền hưởng tài sản bố mẹ để lại.

Vậy tôi muốn hỏi theo luật pháp, ở cương vị tôi có quyền được hưởng thừa kế tài sản của bố mẹ để lại không? Tài sản bố mẹ để lại là một ngôi nhà có diện tích đất là 245m2 nhưng chưa có bìa đỏ.

Tôi xin chân thành cảm ơn! (Lục Thị Phương, Sông Hiến, thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng).
Trả lời:

Chào bạn! Trường hợp của bạn do ba mẹ bạn mất không để lại di chúc nên phần di sản của ba mẹ bạn để lại sẽ được chia theo pháp luật khi có yêu cầu. Bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất, nên sẽ được hưởng một phần di sản. Theo quy định tại điều 676 Bộ luật Dân sự về Người thừa kế theo pháp luật:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Việc không đứng ra lo việc hậu sự không là yếu tố không được hưởng quyền quyền thừa kế theo quy định pháp luật.

Do vậy, bạn và 2 người em còn lại có thể tiến hành kê khai di sản thừa kế (văn bản kê khai này phải được công chứng). Sau đó bạn liên hệ Phòng tài nguyên và môi trường để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu.

Nếu không thỏa thuận được, bạn có thể yêu cầu Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có di sản giải quyết việc tranh chấp di sản thừa kế.
Văn phòng luật sư Giải Phóng
Theo Vietnamnet

Đất thừa kế được đền bù có phải chia cho họ hàng?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét
Ở địa phương tôi có làm đường đi qua phần đất mà bà nội tôi đã cho tôi và tôi được đền bù một khoản tiền. Tuy nhiên các chú các bác tôi viết đơn lên UBND xã đòi gia đình tôi phải chia số tiền đền bù phần đất đó ra cho họ.
Gia đình tôi có 3,9 sào ruộng, được chia làm 6 suất, trong đó có 1 suất của bà nội tôi. Khi bà còn sống đã cho gia đình tôi suất đất đó và hiện nay suất đất này nằm trong hộ khẩu của gia đình tôi. Hiện nay ở địa phương tôi có làm đường đi qua phần đất mà bà nội tôi đã cho tôi và tôi được đền bù một khoản tiền.

Tuy nhiên các chú các bác tôi (các con của bà nội tôi) viết đơn lên UBND xã đòi gia đình tôi phải chia số tiền đền bù phần đất đó ra cho họ.

Xin hỏi tôi có phải là người thừa kế hợp pháp của mảnh đất đó không? Và hiện giờ tôi có phải chia số tiền đó cho các chú các bác của mình không? (Câu hỏi của bạn đọc Chử Văn Ngọc, Hưng Yên).

Trả lời:

Nội dung trao đổi của bạn không nêu rõ bà nội mất khi nào và bà nội bạn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bạn có giấy tờ gì chứng minh hay không và hiện ai đang đứng tên quyền sử dụng phần đất đó. Vì thế chúng tôi có một số ý kiến tư vấn như sau:

Thứ nhất: Nếu bạn có bất cứ giấy tờ gì chứng minh việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà nội cho bạn (Ví dụ: Giấy tờ tặng cho, hợp đồng mua bán, di chúc,…) là hợp pháp. Điều này đồng nghĩa bạn là chủ sử dụng hợp pháp của phần đất đó. Và bạn được hưởng toàn bộ số tiền đền bù theo quy định của pháp luật.

Thứ hai: Nếu bạn không có giấy tờ chứng minh việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà nội cho bạn, quyền sử dụng đất hiện vẫn đứng tên bà nội bạn và bà nội bạn mất đi không để lại di chúc. Vì thế phần đất này sẽ được chia đều cho các người thừa kế ở hàng thứ nhất bao gồm: ông nội bạn ( nếu còn sống), tất cả các người con của bà bạn. Như vậy, số tiền đền bù đối với phần đất đó sẽ được chia đều cho những người nêu ở trên. Việc các chúc các bác bạn yêu cầu chia tiền đền bù trong trường hợp này là đúng quy định của pháp luật.

Các tranh chấp liên quan đến thừa kế và quyền sử dụng đất thường rất phức tạp. Bạn cần cung cấp đầy đủ thông tin và hồ sơ giấy tờ kèm theo để được tư vấn một cách chính xác và cụ thể.

Ls Hoàng Tuấn Anh, VP Luật Hoàng Kim
Theo Vietnamnet

Bố mất sau ông nội thì có được hưởng thừa kế không?

Unknown | 16:59 | 0 nhận xét

Câu hỏi :

Tôi có câu hỏi về quyền thừa kế mong luật sư trả lời giúp: sau khi ông bà nội mất một thời gian thì bố tôi cũng mất, nhà nội hiện giờ còn 6 anh chị em kể cả bố tôi là 7, mọi người trong nhà nội muốn bán mảnh đất của ông bà thì gia đình tôi có được hưởng thừa kế không?(trong khi giấy khai sinh của bố tôi đã mất từ rất lâu từ khi bố tôi còn sống, hiện giờ chỉ còn giấy báo tử) . 

Kính gửi: Quý bạn đọc



Nếu ông bà nội của bạn mất mà không có di chúc thì tài sản của ông bà nội bạn sẽ được chia thừa kế theo pháp luật theo quy định tại điều 676 BLDS. Và tại điểm a khoản 1 điều này quy định: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; Do bố bạn mất sau ông bà nội, nên bố bạn vẫn được hưởng phần di sản mà ông bà để lại và thuộc hàng thừa kế thứ nhất.

Và tại khoản 2 điều nay cũng có quy định: Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. Như vậy, cha bạn được hưởng phần bằng nhau như những người khác.

Do bố bạn đã chết, bạn là con thuộc hàng thừa kế thứ nhất, nên bạn sẽ được thừa hưởng phần tài sản bố bạn để lại (bao gồm cả phần tài sản mà bố bạn được hưởng của ông bà nội). 

Ở nước ngoài có được hưởng thừa kế?

Unknown | 15:50 | 0 nhận xét
Hỏi: Vợ chồng tôi có hai căn nhà tại quận 1, Tp.HCM. Nay chúng tôi muốn lập di chúc chia đều hai căn nhà cho hai con, trong đó có một người con ở nước ngoài. Vậy người con ở nước ngoài có được hưởng thừa kế căn nhà mà vợ chồng tôi để lại hay không?

Trường hợp người con của chúng tôi ở Việt Nam vẫn còn khó khăn nên nếu chúng tôi lập di chúc để thừa kế lại toàn bộ tài sản cho người con ở Việt Nam thì có được không? Trong trường hợp này người con ở nước ngoài có được hưởng thừa kế tài sản của vợ chồng tôi hay không? Xin cám ơn. (Nguyễn Thị Phương Khanh, phường 26, quận Bình Thạnh, Tp.HCM)

Trả lời:

Xin trả lời bạn như sau, vợ chồng bạn có quyền lập di chúc để lại tài sản cho các con của bạn. Tuy nhiên pháp luật cũng có những quy định về những trường hợp không được quyền hưởng di sản, cụ thể là: người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản, ngoại trừ người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó như quy định trên, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc, thì họ vẫn được hưởng di sản.

Về quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì pháp luật hiện hành có quy định, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam khi thuộc các đối tượng như: người có quốc tịch Việt Nam; người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước. Trường hợp người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng như đã nêu nhưng được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam.

Như vậy, người con ở nước ngoài của vợ chồng bạn khi nhận thừa kế là căn nhà mà vợ chồng bạn để lại, sẽ chỉ được đứng tên sở hữu nhà khi thuộc những trường hợp nêu trên. Nếu con bạn không thuộc những trường hợp được đứng tên sở hữu thì chỉ được hưởng giá trị của căn nhà.

Theo quy định pháp luật Dân sự, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Người lập di chúc có các quyền như: chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; phân định phần di sản cho từng người thừa kế; dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; giao nghĩa vụ cho người thừa kế; chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Như vậy, vợ chồng bạn có quyền lập di chúc để lại tài sản của mình cho bất kỳ người nào mà pháp luật không có quyền can thiệp. Tuy nhiên, pháp luật quy định có những trường hợp vẫn được hưởng phần di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc như là con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con đã thành niên mà không có khả năng lao động. Những người này vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản.


LS Nguyễn Văn Hậu
Theo SGTT

Tranh chấp tài sản thừa kế không di chúc

Unknown | 17:54 | 0 nhận xét
Câu hỏi:

Gia đình tôi có một ngôi nhà tổ (nhà từ đường) do ông bà để lại ở Long An. Ông bà ngoại tôi có 4 người con. Nhưng cậu hai và dì tư của tôi thoát ly gia đình từ năm 15 tuổi (lên Sài Gòn và đi kháng chiến rồi không về ở nhà đó nữa), còn lại dì ba và mẹ của tôi sống ở đấy. Đến năm 1945, 1948 ông bà ngoại tôi mất nhưng không để lại di chúc. Sau đó dì ba tôi đứng tên chủ hộ căn nhà, rồi sau này chuyển quyền chủ hộ căn nhà cho anh ruột tôi (vì dì tôi không còn chồng con). 

Từ sau năm 1975, mẹ tôi là người đã có công xây dựng, sửa chữa và chăm sóc toàn bộ căn nhà, mảnh vườn. Mẹ tôi có 2 người con, anh trai tôi và tôi cũng đều sống ở đấy. Hiện nay, cậu 2 tôi đã mất, nhưng còn 5 người con sống tại Sài Gòn. Dì tư tôi 83 tuổi còn sống hiện cũng ở Sài Gòn cùng 2 con của dì. Còn dì ba và mẹ tôi đã mất từ năm 2000. Gần đây, các anh chị họ của tôi, thậm chí cả chị dâu cũng luôn "dòm ngó" và muốn tranh giành ngôi nhà, mảnh vườn này, mặc dù họ chưa bao giờ sống và chăm sóc đến chúng.

Tôi muốn hỏi, 

1. Căn nhà và mảnh vườn đó có là tài sản chung không? nếu có, thì có bị phân chia không? nếu phân chia thì chia cho những ai? 

2. Anh trai tôi là chủ hộ, vậy anh ấy có được quyền sở hữu và quyết định căn nhà đó không? Mẹ và anh em chúng tôi đã có công thờ cúng và chăm sóc ngôi nhà ấy, vậy chúng tôi có được quyền giữ lại căn nhà để thờ phụng ông bà tổ tiên không? chúng tôi không muốn bán ngôi nhà tổ này, vì nơi đây như ngôi nhà chung để họp mặt và cúng kiến ông bà vào những ngày giỗ, tết. 

Xin cho chúng tôi một sự tư vấn hợp tình, thấu lý để chúng tôi có thể tiếp tục giữ gìn truyền thống văn hoá tốt đẹp từ trong ngôi nhà từ đường mà ông bà tôi đã gầy dựng lên, đồng thời cho các anh em họ và dì tôi phải tâm phục, khẩu phục mà không nghĩ đến chuyện tranh giành của cải một cách vô ý thức. 

Xin chân thành cảm ơn!


Kính gửi: Quý bạn đọc


Theo quy định thì quá 10 năm thì hết thời hiệu về khởi kiện thừa kế. Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP quy định, không áp dụng thời hiệu khi: 

Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung và cần phân biệt như sau: 

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc. 

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ. 

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung. 

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản".

Tuy nhiên , do phần tài sản này hiện đã đứng tên của Anh trai bạn, nếu họ có khởi kiện ra Tòa để yêu cầu chia tài sản chung thì cũng khó vì người anh trai bạn không chịu nhìn nhận căn nhà cha mẹ để lại là tài sản chung chưa chia thì không có cơ sở để khởi kiện tranh chấp tài sản chung.

Người mất tích có được hưởng tài sản thừa kế chung?

Unknown | 20:26 | 0 nhận xét
Câu hỏi: Tôi có một thắc măc xin hỏi:

Cha tôi đã bỏ nhà ra đi từ trước năm 1970, mẹ tôi cực khổ nuôi năm anh em tôi khôn lớn và bà có dành dụm sắm được một số tài sản gồm một căn nhà và khoảng 5.000m2 bất động sản sau năm 1975. Năm 2011 mẹ tôi mất vậy số tài sản trên chia như thế nào ? (Cha tôi từ khi bỏ đi không liên lạc và không rõ tung tích)


Kính gửi: Quý bạn đọc

Đối với trường hợp của bạn, tuy cha bạn bỏ đi và không rõ tung tích nhưng cha mẹ bạn vẫn chưa ly hôn, nên theo quy định của pháp luật, giữ cha mẹ bạn vẫn tồn tại quan hệ hôn nhân và phần tài sản này là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân sẽ là tài sản chung của vợ chồng (trừ trường hợp đây là tài sản của mẹ bạn được tặng cho riêng, thừa kế).

Nếu cha của bạn bỏ đi không liên lạc và không rõ tung tích, bạn có thể yêu cầu tòa án tuyên bố mất tích đối với cha bạn, theo quy định tại điều 78 Bộ luật dân sự: 

Điều 78. Tuyên bố một người mất tích 


1. Khi một người biệt tích hai năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

Sau khi tuyên bố mất tích, những người con đã thành niên có thể đứng ra quản lý tài sản của cha bạn (một nữa trong khối tài sản chung) và một nữa còn lại sẽ được chia đều cho các đồng thừa kế (hàng thừa kế thứ nhất bao gồm : vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết).

Sau ba năm kể từ ngày tuyên bố mất tích mà vẫn không có tin tức xác thực là cha bạn còn sống, bạn có thể yêu cầu tòa án tuyên bố là cha bạn đã chết (điều 81 BLDS) . Và phần tài sản của cha bạn cũng sẽ được chia đều cho các đồng thừa kế.