Hiển thị các bài đăng có nhãn thủ tục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thủ tục. Hiển thị tất cả bài đăng

Làm bằng khoán (giấy chứng nhận QSDĐ) như thế nào?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét
Hỏi: Năm 2011, tôi mua 4000 m2 đất ruộng của ông Ba, đã trả tiền đầy đủ, chỉ làm giấy tay và có những người hàng xóm ký xác nhận chứ không có UB xã chứng thực.

Đất này của ông Ba mua lại của ông Hai, nhưng ông Ba chưa có bằng khoán, ông Hai vẫn còn đứng tên quyền sử dụng. Ông Hai đã đưa bằng khoán cho tôi để làm thủ tục sang tên. Tháng 4/2012 tôi có nhờ ông trưởng ấp làm đơn và nộp hồ sơ gửi uỷ ban xã yêu cầu cấp bằng khoán cho tôi. Cho tôi hỏi thủ tục làm bằng khoán như thế nào? Có phức tạp không?

Nguyễn Minh Anh, Đồng Tháp

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có xác nhận của phòng công chứng mới có giá trị pháp lý. Nếu ông muốn làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) thì ông cần phải lập lại hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ với ông Hai và thực hiện công chứng theo quy định của pháp luật.

Sau khi hợp đồng được công chứng, ông mang hợp đồng chuyển nhượng đến chi cục thuế huyện nơi có đất để thực hiện nghĩa vụ tài chính về thuế và lệ phí trước bạ. Khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế, ông nộp hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ tại uỷ ban nhân dân xã nơi có đất hoặc văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng Tài nguyên và môi trường cấp huyện nơi có đất với các giấy tờ như: đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận; hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ; bằng khoán đứng tên ông Hai; bản sao giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật.

LS Nguyễn Văn Hậu
Theo SGTT

Cách tính tiền sử dụng đất vượt hạn mức

Unknown | 20:47 | 0 nhận xét
Hỏi: Tôi có căn nhà (B) diện tích 398m2, nhà cấp 4, tọa lạc ở phường Linh Xuân, quận Thủ Đức (Tp.HCM). Nhà xây dựng không phép và đưa vào sử dụng vào năm 2005 trên đất trồng cây lâu năm của ông bà để lại, đất đã có sổ đỏ do tôi đứng tên.

Năm 2011 tôi xin hợp thức hóa căn nhà nêu trên và đã được UBND quận Thủ Đức ký giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản gắn liền với đất vào ngày 12-9-2011, chuyển qua chi cục thuế vào ngày 20-9-2011. Hiện tôi đang chờ được hướng dẫn đóng thuế sử dụng đất vượt hạn mức quy định.

Xin hỏi, trước khi xin hợp thức hóa căn nhà B, vợ chồng tôi có đứng tên sở hữu một căn nhà A diện tích 124m2 ở phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức. Tuy nhiên, tháng 8-2011 chúng tôi đã bán căn nhà A và đã đóng đầy đủ các thuế (kể cả thuế thu nhập) cho Nhà nước. Do đó, hiện chúng tôi chỉ có căn nhà B là duy nhất.

Vậy nhà B của chúng tôi có được tính phần diện tích 200m2 đóng thuế đất trong hạn mức sử dụng không hay phải đóng tất cả 398m2 đất là thuế vượt hạn mức sử dụng?

Căn nhà tôi đang chờ đóng thuế được phường Linh Xuân xác định là nhà nằm trong hẻm cấp 1, vị trí hai, đường nhựa, tiếp giáp trong khoảng 200m với đường số 8. Đường số 8 này được công bố giá đất của Tp.HCM là 1.800.000 đồng. Theo quyết định số 28/2012/QĐ-UBND, xin tính giúp chúng tôi số tiền phải đóng cụ thể là bao nhiêu?

Mong được trả lời. Cảm ơn.

Hồng Chung (chungnga_18@... )

Trả lời

Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, việc xác định diện tích trong hạn mức để tính tiền sử dụng đất chỉ được tính cho một thửa đất.

Vì vậy, nếu trước khi xin hợp thức hóa căn nhà (B), vợ chồng bạn đã từng đứng tên sở hữu một căn nhà (A) thì cho dù tại thời điểm xin hợp thức hóa căn nhà B, căn nhà A đã được bán cho người khác, toàn bộ diện tích xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là “giấy chứng nhận”) sẽ được xem là phần diện tích đất vượt hạn mức.

Theo quyết định 28/2012/QĐ-UBND ngày 6-7-2012 của UBND Tp.HCM, hệ số điều chỉnh giá đất để tính thu tiền sử dụng đất của phần diện tích vượt hạn mức sử dụng (hạn mức giao) đất ở khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở (công nhận quyền sử dụng đất) đối với đất đang sử dụng có hiện trạng là đất ở thuộc khu dân cư (do UBND phường, xã, thị trấn xác nhận) của hộ gia đình, cá nhân thì toàn bộ diện tích đất ở vượt hạn mức được áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất là hai (02) lần giá đất ở do UBND thành phố quy định và công bố hằng năm.

Do đó, nếu căn nhà B mà bạn đang chờ đóng thuế đã được xác định giá đất theo quyết định của UBND thành phố tại thời điểm xin cấp giấy chứng nhận 1.800.000 đồng/m2 thì số tiền sử dụng đất mà vợ chồng bạn phải đóng sẽ là 398m2 x 2 x 1.800.000 đồng.

Luật sư Nguyễn Văn Hậu
Theo TTO

Khởi kiện chia lại tài sản thừa kế như thế nào?

Unknown | 18:41 | 0 nhận xét
Câu hỏi: 

Cho em hỏi về viêc phân chia tài sản. Gia đình ông bà nội em sinh được hai anh em trai không có con riêng nào hết. Ông nội em chết khi bố em còn nhỏ bà nội em chết năm 1998 có để lại tài sản là một ngôi nhà và diện tích đất sử dụng là 880m2 nhưng không có di chúc thừa kế cho ai cả. Vậy mà đến năm 2005 chú là em ruột của bố em tự sang tên quyền sử dúng đất sang têt chú em. Vậy đến nay năm 2012 bố em kiện có được không. Nếu kiện được thì bao nhiêu phân trăm thắng kiện và toà sẽ giải quyết ra sao. Em mong các luật sư tư vấn giúp em. Em rất chân thành cảm ơn các luật sư. 
Trả lời:

Theo quy định tại Điều 645 Bộ luật dân sự 2005 thì “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế…..”. Theo như bạn trình bày thì thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di sản mà ông bà nội bạn đã hết. Tuy nhiên, Theo mục 2.4 Mục I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/08/2004 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế thì có những trường hợp cụ thể không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, cụ thể như sau:

“ Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau: a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.

Như vậy, trong trường hợp này bố bạn muốn yêu cầu được chia tài sản chung mà ông bà nội bạn để lại cho bố và chú bạn, có thể yêu cầu Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có tài sản là nhà và đất nói trên để yêu cầu chia tài sản chung của bố và chú bạn.

Thủ tục xin cấp sổ đỏ cho đất khai hoang trước năm 1970

Unknown | 17:58 | 0 nhận xét
Hỏi: Bố tôi có khai hoang mảnh đất (nay thuộc phường 12, TP Vũng Tàu) và sử dụng từ trước năm 1970. Hiện mảnh đất không thuộc diện quy hoạch, không có giấy tờ gì và cũng không có ai tranh chấp.

Mong chuyên mục hướng dẫn giúp tôi các giấy tờ để được cấp sổ đỏ. Trình tự như thế nào? Gồm những mẫu đơn gì, thủ tục ra sao và thời gian hoàn tất?

Hiện tôi sống ở huyện Long Điền (Bà Rịa - Vũng Tàu) nhưng vẫn đang canh tác trên mảnh đất đó. Có rất nhiều người có thể làm chứng mảnh đất đó thuộc quyền sở hữu của tôi, không có ai tranh chấp và được khai thác sử dụng trước năm 1970.

Cảm ơn.

Minh Trần (tranhoangminh0411@... )

Trả lời

Theo quy định tại Điều 7 Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19-10-2009 của Chính phủ và khoản 4 Điều 50 Luật Đất đai, nếu không có bất cứ một loại giấy tờ nào chứng minh về quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai, nhưng mảnh đất trên đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15-10-1993, nay được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì người sử dụng đất hiện tại sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là “giấy chứng nhận”) để chứng nhận quyền sử dụng đất đối với mảnh đất trên.

Theo quy định tại Nghị định 88/2009/NĐ-CP, bạn có thể chuẩn bị hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất để nộp hồ sơ và nhận giấy chứng nhận tại phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên - môi trường TP Vũng Tàu (hoặc tại UBND xã, thị trấn nơi có đất).

Hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận gồm có:

+ Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận;

+ Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai (nếu có);

+ Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật (nếu có).

Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, UBND xã, thị trấn khi nhận hồ sơ có trách nhiệm viết giấy biên nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ; trong thời hạn không quá ba ngày làm việc phải kiểm tra hồ sơ và thông báo bằng văn bản cho người nộp hồ sơ biết nếu cần phải bổ sung, hoàn thiện hồ sơ.

Do không có thông tin đầy đủ về vị trí thửa đất, diện tích thửa đất... cũng như tình trạng thửa đất hiện tại như thế nào nên không thể kết luận được là bạn có được cấp giấy chứng nhận đối với thửa đất trên, cũng như thời gian hoàn tất để được cấp giấy chứng nhận là bao lâu.

Tuy nhiên, bạn có thể liên lạc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất UBND TP Vũng Tàu hoặc UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất để được hướng dẫn cụ thể hơn đối với các thắc mắc của mình.

Luật sư Nguyễn Văn Hậu
Theo TTO

Quyền được mua nhà theo nghị định 61

Unknown | 17:27 | 0 nhận xét
Hỏi: Gia đình tôi có tám người, gồm bố mẹ và sáu người con. Năm 1989 cơ quan bố tôi cấp cho ông căn nhà thuộc sở hữu nhà nước để ở. Năm 1997 bố tôi qua đời, không để lại di chúc. Mẹ tôi và một người con trai vẫn tiếp tục ở trong căn nhà tới nay.

Hiện hộ khẩu nhà tôi gồm mẹ tôi (chủ hộ), một người con trai và hai người con gái (có tên trong hộ khẩu, nhưng thực tế hai người này đã tạm trú dài hạn tại Tp.HCM từ năm 1996 và đã đi nước ngoài sinh sống).

Năm 2010 Nhà nước cho làm thủ tục thanh lý nhà theo nghị định 61/CP. Cơ quan nơi bố tôi làm việc có quyết định gửi công ty kinh doanh nhà của thành phố chỉ định người đứng tên mua nhà là mẹ tôi. Nhưng 4 người con của mẹ tôi (không có tên trong hộ khẩu) có đơn gửi UBND phường và tất cả các cơ quan có thẩm quyền về việc bán nhà, xin được đứng tên cùng mua căn nhà. Theo họ, mẹ tôi và họ cùng là hàng thừa kế thứ nhất.

Do có đơn của những người này nên việc thực hiện mua nhà của mẹ tôi bị ách tắc, UBND phường nơi mẹ tôi cư ngụ không ký xác nhận bất cứ giấy tờ nào liên quan tới việc mua nhà cho bà. Tuy nhiên khi bà yêu cầu được xem đơn của 4 người con thì UBND phường không đồng ý.

Trong khi đang làm thủ tục mẹ tôi có di chúc cho người con trai (có tên trong hộ khẩu) căn nhà và nhường quyền được mua nhà cho người con này. Ngày 6-1-2012 mẹ tôi qua đời. Hiện nay người con trai được mẹ tôi di chúc đang sống trong căn nhà này và tiếp tục trả tiền thuê đất.

Xin hỏi, việc UBND phường không ký xác nhận tất cả giấy tờ liên quan đến việc mua nhà của mẹ tôi như vậy có đúng pháp luật không? Hiện ai sẽ được đứng tên mua nhà theo đúng quy định? Người được đứng tên mua nhà cần phải có những thủ tục gì? Gửi cơ quan thẩm quyền nào giải quyết?

Mong được giải đáp. Xin cảm ơn.

Hue Nguyen (huenguyen1251@... )

Trả lời

Trước tiên, bạn cần lưu ý vấn đề sau, Nghị định 61/CP ngày 5-7-1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở quy định về việc bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê; kinh doanh nhà ở và mua bán nhà ở không nhằm mục đích kinh doanh.

Ngoài ra, cũng theo Nghị định 61/CP, bên bán nhà ở phải là chủ sở hữu hợp pháp nhà ở và chủ sử dụng hợp pháp đất ở. Tuy nhiên, theo thông tin bạn cung cấp thì Công ty Quản lý kinh doanh nhà Tp.HCM cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa tiến hành việc ký hợp đồng thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước đối với người đang thuê là bố hoặc mẹ bạn, cũng chưa có bất kỳ một văn bản nào thể hiện căn nhà trên thuộc sở hữu nhà nước. Vì thế, việc cơ quan bố bạn làm văn bản gửi Công ty Quản lý kinh doanh nhà Tp.HCM để chỉ định người mua nhà phải là mẹ bạn cũng chỉ mang tính chất làm cơ sở để chứng minh nguồn gốc tạo lập của căn nhà.

Do đó, để có cơ sở và hướng giải quyết tiếp theo, bạn nên liên hệ Công ty Quản lý kinh doanh nhà Tp.HCM để xác thực và làm rõ xem căn nhà hiện tại có phải thuộc sở hữu nhà nước hay không. Trường hợp căn nhà thuộc sở hữu nhà nước thì Công ty Quản lý kinh doanh nhà Tp.HCM mới là cơ quan có thẩm quyền kiểm tra và xác định ai sẽ là đối tượng đủ điều kiện để được mua nhà thuộc sở hữu nhà nước.

Liên quan đến việc từ chối ký các loại văn bản giấy tờ của UBND phường nơi có căn nhà tọa lạc khi gia đình bạn tiến hành thủ tục mua nhà (nếu nhà ở thuộc sở hữu nhà nước) hoặc thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (nếu nhà ở không thuộc sở hữu nhà nước): nếu có cơ sở cho rằng căn nhà nêu trên đang trong tình trạng tranh chấp thì UBND phường có quyền từ chối ký vào các văn bản liên quan khi gia đình bạn tiến hành thủ tục.

Tuy nhiên, trong trường hợp UBND phường lấy lý do có đơn của 4 người con kia của mẹ bạn thì mẹ bạn có quyền yêu cầu UBND phường xác thực các đơn này. Nếu UBND phường từ chối thì mẹ bạn có quyền khiếu nại đến chủ tịch UBND phường theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật về khiếu nại để được giải quyết.

Ngoài việc liên hệ Công ty Quản lý kinh doanh nhà Tp.HCM để được xác thực thông tin như đã nêu trên, bạn cũng có thể liên hệ UBND cấp huyện nơi có căn nhà tọa lạc để hỏi rõ hơn về tình trạng pháp lý hiện hữu của căn nhà, từ đó mới có thể xác định các bước tiếp theo trong quá trình xác lập quyền sở hữu nhà ở đối với căn nhà trên.

Luật sư Nguyễn Văn Hậu
Theo TTO

Đã ly hôn nhưng nhà chồng không cho tách hộ khẩu?

Unknown | 19:16 | 0 nhận xét
Hỏi: Tôi và chồng tôi đã ly hôn. Nhưng tôi muốn tách hộ, ghép với gia đình nhà chồng. Hiện tại, tôi chưa có nhà riêng, nhưng gia đình nhà chồng tôi không cho hai mẹ con tách hộ ghép, lý do vì không thích.

Vậy tôi phải làm gì để được tách hộ ghép?

hoang_nga_bs@...

Trả lời:

Căn cứ điều 27 Luật Cư trú năm 2006 vấn đề tách sổ hộ khẩu được quy định như sau:

Điều 27. Tách sổ hộ khẩu

1. Trường hợp có cùng một chỗ ở hợp pháp được tách sổ hộ khẩu bao gồm:

a) Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có nhu cầu tách sổ hộ khẩu;

b) Người đã nhập vào sổ hộ khẩu quy định tại khoản 3 Điều 25 và khoản 2 Điều 26 của Luật này mà được chủ hộ đồng ý cho tách sổ hộ khẩu bằng văn bản.

2. Khi tách sổ hộ khẩu, người đến làm thủ tục phải xuất trình sổ hộ khẩu; phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; ý kiến đồng ý bằng văn bản của chủ hộ nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

3. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải trả kết quả giải quyết việc tách sổ hộ khẩu; trường hợp không giải quyết việc tách sổ hộ khẩu thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Theo như bạn trình bày, do bạn nhập hộ khẩu vào nhà chồng, nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 điều 25 Luật cư trú. Vì vậy, để thực hiện được việc tách sổ hộ khẩu cần phải có sự đồng ý của chủ hộ. Tuy nhiên, bạn có thể đăng ký thường trú tại nơi cư trú mới, khi đó không cần sự đồng ý của gia đình chồng, bạn vẫn thực hiện được thủ tục này. Trong trường hợp này, bạn cần phải có chỗ ở hợp pháp mới. Về trình tự thủ tục đăng ký thường trú bạn có thể tham khảo điều 21 Luật Cư trú, như sau:

Điều 21. Thủ tục đăng ký thường trú

1. Người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú tại cơ quan công an sau đây:

a) Đối với thành phố trực thuộc trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã;

b) Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện, Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

2. Hồ sơ đăng ký thường trú bao gồm:

a) Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; bản khai nhân khẩu;

b) Giấy chuyển hộ khẩu theo quy định tại Điều 28 của Luật này;

c) Giấy tờ và tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp. Đối với trường hợp chuyển đến thành phố trực thuộc trung ương phải có thêm tài liệu chứng minh thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật này.

3. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này phải cấp sổ hộ khẩu cho người đã nộp hồ sơ đăng ký thường trú; trường hợp không cấp phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

VP luật sư Giải Phóng
Theo Vietnamnet

Mua phải đất lấn chiếm

Unknown | 18:49 | 0 nhận xét
Hỏi: Hiện nay tôi mua nhà và đất trong đó họ bán cam kết trong hợp đồng là 67m2 thổ cư ra sổ hồng riêng tại thị trấn Nhà Bè. Nhưng khi ra sổ thì chỉ có 52m2, phần còn lại do họ lấn chiếm đất công của Nhà nước làm sân và bán cho tôi với tổng diện tích là 76m2 thổ cư.

1) Trường hợp này họ đang chiếm đoạt tài sản đất của Nhà nước đem bán cho người mua.

2) Họ đang lừa đảo người mua phải mua đất công của Nhà nước (Đất công của Nhà nước thuộc hẻm giới mà Nhà nước đã quy hoạch). Xin tư vấn giúp tôi!

Nguyen Tan Tai (taint@...)

Trả lời
Trường hợp của bạn là bài học và kinh nghiệm khi nhận chuyển nhượng đất và chuyển nhượng quyền sở hữu nhà mà chưa tìm hiểu kỹ mọi thông tin về diện tích đất được sử dụng thực tế cũng như quyền sở hữu đối với diện tích thực của căn nhà.

Nếu đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng bên chuyển nhượng đã cam kết sẽ chuyển nhượng cho bạn 67m2 đất nhưng thực tế bạn chỉ được đứng tên trên diện tích 52m2 vì phần diện tích đất còn lại thuộc sở hữu nhà nước đã được quy hoạch thì bạn nên cân nhắc thương lượng hòa giải với người chuyển nhượng, nếu không giải quyết được bạn có quyền khởi kiện người chuyển nhượng ra trước cơ quan tòa án có thẩm quyền về hành vi lừa dối trong giao dịch mua bán.

Trân trọng,

Luật sư Lê Thị Hoài Giang
(Theo TTO)

Bên thuê nhà có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng?

Unknown | 17:48 | 0 nhận xét
Hỏi: Tôi có thuê một căn nhà để ở, có công chứng hợp đồng thuê nhà, thời hạn thuê là 3 năm. Đến nay, việc thuê nhà đã được 2 năm và tôi muốn chấm dứt hợp đồng thuê nhà.

Trong hợp đồng thuê nhà không có điều khoản về đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn mà chỉ nêu chung chung “theo quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Nhà ở”. Xin hỏi, tôi có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà? Nếu được thì tôi phải làm như thế nào để khỏi bị phạt hợp đồng? (Trần Thị Thùy Như, Đường Võ Văn Kiệt, quận 1, Tp. Hồ Chí Minh)

Trả lời
Điều 426 Bộ Luật Dân sự, quy định: “Một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Khoản 3, Điều 498 BLDS quy định: “Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà phải báo cho bên kia biết trước một tháng, nếu không có thỏa thuận khác”. Điều 103 Luật Nhà ở cũng quy định: “Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng thuê nhà ở phải thông báo cho bên kia biết trước ít nhất một tháng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.

Như vậy, theo quy định pháp luật, bà có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà với điều kiện là phải báo trước cho bên A (bên cho thuê nhà) biết trước ít nhất 1 tháng.

Luật gia Nguyễn Văn Khôi
Theo Công lý