Hiển thị các bài đăng có nhãn tài sản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tài sản. Hiển thị tất cả bài đăng

Tranh chấp tài sản thừa kế giữa anh chị em ruột

Unknown | 18:45 | 0 nhận xét
Hỏi: Trước đây ba mẹ tôi có mua nhà bằng giấy tay và sau có làm hộ khẩu do ba tôi đứng tên chủ hộ. Do ba mẹ lớn tuổi và tôi cũng là con út trong nhà nên ba mẹ muốn tôi đứng tên căn nhà đồng thời làm chủ hộ.

Tôi làm giấy tờ đứng tên quyền sở hữu nhà, ba mẹ tôi cũng biết điều đó và không có ý kiến gì. Vậy hỏi luật sư trường hợp này, các anh và chị của tôi có được hưởng phần di sản thừa kế từ ngôi nhà này khi ba mẹ tôi mất? Lê Bá (Hà Nội)

Trả lời:

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Vì giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở đứng tên bạn nên thuộc quyền quản lý, sử dụng và định đoạt của bạn.

Nếu việc bố mẹ bạn tặng cho bạn ngôi nhà là có thật và bạn thực hiện đầy đủ hồ sơ và thủ tục tại Cơ quan quản lý nhà ở cấp quận/huyện trong khi làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất ở thì việc sở hữu nhà của bạn là hoàn toàn hợp pháp, bố mẹ của bạn không còn liên quan đến quyền sở hữu ngôi nhà, do đó anh chị em của bạn không có quyền yêu cầu chia thừa kế từ ngôi nhà sau khi bố mẹ bạn qua đời.

Thủ tục tặng cho tài sản là nhà, đất được tiến hành theo quy định của pháp luật với những hồ sơ chuyển dịch quyền sở hữu nhà ở do tặng cho như sau:

- Hợp đồng tặng cho có chứng nhận của công chứng Nhà nước;

- Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở của bên tặng cho;

- Bản khai nộp thuế thu nhập cá nhân và Bản khai nộp lệ phí trước bạ nhà, đất (do cơ quan quản lý nhà ở cung cấp tại nơi tiếp nhận hồ sơ);

- Bản sao Sổ hộ khẩu, Giấy khai sinh nếu các bên tặng cho có quan hệ gia đình như: Cha mẹ, con, anh chị em ruột để làm cơ sở miễn thuế chuyển quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (sổ đỏ) có thể bị xem xét lại nếu có sự khai báo nguồn gốc tài sản không trung thực hoặc do sơ suất thiếu trách nhiệm của cơ quan cấp sổ đỏ đã không xem xét kỹ và thực hiện theo đúng thủ tục theo quy định của pháp luật.

Trường hợp có khiếu nại hoặc khởi kiện mà phát hiện ra sự việc này, theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì quyền sở hữu ngôi nhà của bạn có thể bị hủy bỏ và ngôi nhà này vẫn thuộc quyền sở hữu của bố mẹ bạn và được chia thừa kế theo quy định của pháp luật thừa kế nếu bố mẹ bạn không để lại di chúc.

Luật sư Nguyễn Phú Thắng
Theo GiadinhNet

Cho tài sản bằng giấy tờ viết tay có giá trị pháp lý hay không?

Unknown | 17:51 | 0 nhận xét

Câu hỏi: 

Kính chào Luật sư!

Hiện tại tôi đang ở khu vực quận 12, Bố tôi có hứa cho tôi một phần căn nhà mà ông đang ở với diện tích là 48m2 mặt tiền đường nhựa . Như vậy tôi có thể tách ra để làm sổ hồng được không? Nếu như trường hợp không tách được thì bố tôi làm giấy viết tay cho tôi, rồi công chứng tại phòng công chứng thì giấy viết tay đó nếu sau này tranh chấp có giá trị pháp lý hay không? Xin nhờ Luật sư tư vấn giúp tôi. Xin chân thành cảm ơn. 

Kính gửi Quý bạn đọc


Đối với nhà ở, bạn không thể tách ra để làm sổ hồng. Việc tặng cho miệng cũng không có giá trị pháp lý. Để thực hiện việc tặng cho hợp pháp, bạn phải thực hiện đúng theo quy định tại Điều 93 Luật Nhà ở:

Điều 93. Trình tự, thủ tục trong giao dịch về nhà ở

1. Các bên trực tiếp hoặc thông qua người đại diện thoả thuận về mua bán, thuê, thuê mua, tặng cho, đổi, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ, uỷ quyền quản lý nhà ở (sau đây gọi chung là hợp đồng về nhà ở). Trường hợp pháp nhân tặng cho nhà ở thì phải có văn bản tặng cho.

2. Hợp đồng về nhà ở, văn bản tặng cho nhà ở phải thể hiện các nội dung sau đây:

a) Tên và địa chỉ của các bên;

b) Mô tả đặc điểm của nhà ở;

c) Giá và phương thức thanh toán nếu trong hợp đồng có thoả thuận về giá;

d) Thời gian giao nhận nhà ở; thời gian bảo hành (nếu có); thời hạn cho thuê; cho mượn, cho ở nhờ; uỷ quyền quản lý;

đ) Quyền và nghĩa vụ của các bên;

e) Cam kết của các bên;

g) Các thỏa thuận khác;

h) Ngày, tháng, năm ký kết hợp đồng hoặc ký văn bản;

i) Chữ ký của các bên (nếu là tổ chức thì phải đóng dấu và ghi rõ chức vụ của người ký).

3. Hợp đồng về nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã đối với nhà ở tại nông thôn, trừ các trường hợp sau đây:

a) Cá nhân cho thuê nhà ở dưới sáu tháng;

b) Bên bán, bên cho thuê nhà ở là tổ chức có chức năng kinh doanh nhà ở;

c) Thuê mua nhà ở xã hội;

d) Bên tặng cho nhà ở là tổ chức.

4. Một trong các bên theo thoả thuận thực hiện nộp thuế và lệ phí theo quy định của pháp luật.

5. Bên mua, bên nhận tặng cho, bên đổi, bên được thừa kế nhà ở có trách nhiệm nộp hồ sơ để được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở theo trình tự quy định tại Điều 16 của Luật này, trừ trường hợp bên bán nhà ở là tổ chức có chức năng kinh doanh nhà ở hoặc các bên có thỏa thuận khác. Quyền sở hữu nhà ở được chuyển cho bên mua, bên nhận tặng cho, bên thuê mua, bên nhận đổi nhà ở kể từ thời điểm hợp đồng được công chứng đối với giao dịch về nhà ở giữa cá nhân với cá nhân hoặc đã giao nhận nhà ở theo thỏa thuận trong hợp đồng đối với giao dịch về nhà ở mà một bên là tổ chức kinh doanh nhà ở hoặc từ thời điểm mở thừa kế trong trường hợp nhận thừa kế nhà ở.

Như vậy để tặng cho, bố bạn và bạn phải lập hợp đồng tặng cho (với đầy đủ nội dung như trong quy định trên) có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị. Chỉ có hợp đồng tặng cho này là văn bản có giá trị pháp lý chứng minh việc tặng cho là hợp pháp khi sảy ra tranh chấp.

Khởi kiện chia lại tài sản thừa kế như thế nào?

Unknown | 18:41 | 0 nhận xét
Câu hỏi: 

Cho em hỏi về viêc phân chia tài sản. Gia đình ông bà nội em sinh được hai anh em trai không có con riêng nào hết. Ông nội em chết khi bố em còn nhỏ bà nội em chết năm 1998 có để lại tài sản là một ngôi nhà và diện tích đất sử dụng là 880m2 nhưng không có di chúc thừa kế cho ai cả. Vậy mà đến năm 2005 chú là em ruột của bố em tự sang tên quyền sử dúng đất sang têt chú em. Vậy đến nay năm 2012 bố em kiện có được không. Nếu kiện được thì bao nhiêu phân trăm thắng kiện và toà sẽ giải quyết ra sao. Em mong các luật sư tư vấn giúp em. Em rất chân thành cảm ơn các luật sư. 
Trả lời:

Theo quy định tại Điều 645 Bộ luật dân sự 2005 thì “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế…..”. Theo như bạn trình bày thì thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di sản mà ông bà nội bạn đã hết. Tuy nhiên, Theo mục 2.4 Mục I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/08/2004 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế thì có những trường hợp cụ thể không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, cụ thể như sau:

“ Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau: a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.

Như vậy, trong trường hợp này bố bạn muốn yêu cầu được chia tài sản chung mà ông bà nội bạn để lại cho bố và chú bạn, có thể yêu cầu Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có tài sản là nhà và đất nói trên để yêu cầu chia tài sản chung của bố và chú bạn.

Có thể khởi kiện chia lại tài sản thừa kế không?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét
Câu hỏi: 

Cha mẹ chúng tôi khi mất không để lại di chúc (cha mất năm 1999), anh trai trưởng của chúng tôi tự ý chuyển toàn bộ quyền sử dụng đất của cha mẹ mang tên anh mà không hề bàn bạc với chúng tôi (chúng tôi cũng không rõ anh làm QĐ chuyển quyền sở hữu đất năm nào). Sau này trước khi mất anh mới gọi chúng tôi về nói và dặn là phần đất cha mẹ chúng tôi để lại sẽ chia làm 3: 1 phần cho cháu đích tôn (con của anh cả), 1 phần làm nhà thờ và 1 phần bán lấy tiền làm nhà thờ, nghĩ cũng hợp lý vì chúng tôi nay đã có nhà cửa riêng. Nhưng nay vợ của anh trai cả và các con anh lật lọng đòi toàn bộ đất đó với lý do sổ đỏ mang tên ai người đó có quyền quyết định. Việc làm của anh trai cả chúng tôi có đúng pháp luật không? Và chúng tôi có thể kiện để chia lại đất của cha mẹ chúng tôi để lại theo quyền thừa thế Bộ luật dân sự được hay không? Mong Luật sự tư vấn giúp. 

Kính gửi Quý bạn đọc

Sau khi xem xét tình huống bạn nêu, chúng tôi thấy việc làm của anh trai cả bạn là không đúng quy định của pháp luật.

Về việc khởi kiện chia lại đất của cha mẹ bạn chúng tôi có ý kiến như sau:

Cha bạn mất 1999, đến nay đã hơn 12 năm (Do bạn không nói rõ nên chúng tôi không biết mẹ bạn mất vào thời điểm nào, chúng tôi giả thiết mẹ bạn mất cũng đã được hơn 10 năm). Theo qui định tại Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu chia di sản là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (tức thời điểm bố mẹ bạn mất). Do đó, thời hiệu để bạn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đã hết. 

Tuy nhiên, Hội đồng thẩm phán TAND tối cao có ban hành Nghị quyết 02/2004 ngày 10/08/2004 để hướng dẫn về 2 trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện thừa kế như qui định của Bộ luật dân sự. Cụ thể như sau: 

“1. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

1.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

1.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ. 1.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

2. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản.”

Đối chiếu với qui định trên thì bạn và các anh/chị em còn lại có thể và có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án chia tài sản chung của bố mẹ bạn trong khối tài sản chung đã được xác định.

Vợ chồng không ly hôn có được chia tài sản chung?

Unknown | 21:24 | 0 nhận xét

Hỏi: Tôi và chồng có 2 tài sản chung là nhà đất ở quận Đống Đa và Thanh Xuân, do muốn làm ăn riêng nên chúng tôi muốn chia tài sản chung? Chúng tôi có phải làm thủ tục ly hôn không? (Nguyễn Huy Thắng; Email: Thang_8401@gmail.com).

Trả lời

Tại Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung... Việc chia tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật công nhận”.

Theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ, hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình thì thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải được lập thành văn bản và ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản, có chữ ký của cả vợ và chồng, đồng thời ghi rõ các nội dung sau: lý do chia tài sản; phần tài sản chia (bất động sản, động sản, các quyền tài sản, trong đó cần mô tả những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia; phần tài sản còn lại không chia, nếu có); thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung; các nội dung khác, nếu có. Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng có thể có người làm chứng hoặc được công chứng.

Như vậy, theo quy định nêu trên thì vợ chồng bạn không phải tiến hành thủ tục ly hôn mà vẫn chia được tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Để tiến hành thủ tục nêu trên bạn liên hệ trực tiếp đến Phòng công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội để tiến hành thủ tục công chứng biên bản thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Khi tới phòng công chứng bạn và chồng bạn mang theo nhưng tài liệu sau: CMND; hộ khẩu của vợ chồng; Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; 02 Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất.
Luật sư Vũ Thị Hiên
Theo Dantri

Tranh chấp tài sản thừa kế không di chúc

Unknown | 17:54 | 0 nhận xét
Câu hỏi:

Gia đình tôi có một ngôi nhà tổ (nhà từ đường) do ông bà để lại ở Long An. Ông bà ngoại tôi có 4 người con. Nhưng cậu hai và dì tư của tôi thoát ly gia đình từ năm 15 tuổi (lên Sài Gòn và đi kháng chiến rồi không về ở nhà đó nữa), còn lại dì ba và mẹ của tôi sống ở đấy. Đến năm 1945, 1948 ông bà ngoại tôi mất nhưng không để lại di chúc. Sau đó dì ba tôi đứng tên chủ hộ căn nhà, rồi sau này chuyển quyền chủ hộ căn nhà cho anh ruột tôi (vì dì tôi không còn chồng con). 

Từ sau năm 1975, mẹ tôi là người đã có công xây dựng, sửa chữa và chăm sóc toàn bộ căn nhà, mảnh vườn. Mẹ tôi có 2 người con, anh trai tôi và tôi cũng đều sống ở đấy. Hiện nay, cậu 2 tôi đã mất, nhưng còn 5 người con sống tại Sài Gòn. Dì tư tôi 83 tuổi còn sống hiện cũng ở Sài Gòn cùng 2 con của dì. Còn dì ba và mẹ tôi đã mất từ năm 2000. Gần đây, các anh chị họ của tôi, thậm chí cả chị dâu cũng luôn "dòm ngó" và muốn tranh giành ngôi nhà, mảnh vườn này, mặc dù họ chưa bao giờ sống và chăm sóc đến chúng.

Tôi muốn hỏi, 

1. Căn nhà và mảnh vườn đó có là tài sản chung không? nếu có, thì có bị phân chia không? nếu phân chia thì chia cho những ai? 

2. Anh trai tôi là chủ hộ, vậy anh ấy có được quyền sở hữu và quyết định căn nhà đó không? Mẹ và anh em chúng tôi đã có công thờ cúng và chăm sóc ngôi nhà ấy, vậy chúng tôi có được quyền giữ lại căn nhà để thờ phụng ông bà tổ tiên không? chúng tôi không muốn bán ngôi nhà tổ này, vì nơi đây như ngôi nhà chung để họp mặt và cúng kiến ông bà vào những ngày giỗ, tết. 

Xin cho chúng tôi một sự tư vấn hợp tình, thấu lý để chúng tôi có thể tiếp tục giữ gìn truyền thống văn hoá tốt đẹp từ trong ngôi nhà từ đường mà ông bà tôi đã gầy dựng lên, đồng thời cho các anh em họ và dì tôi phải tâm phục, khẩu phục mà không nghĩ đến chuyện tranh giành của cải một cách vô ý thức. 

Xin chân thành cảm ơn!


Kính gửi: Quý bạn đọc


Theo quy định thì quá 10 năm thì hết thời hiệu về khởi kiện thừa kế. Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP quy định, không áp dụng thời hiệu khi: 

Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung và cần phân biệt như sau: 

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc. 

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ. 

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung. 

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản".

Tuy nhiên , do phần tài sản này hiện đã đứng tên của Anh trai bạn, nếu họ có khởi kiện ra Tòa để yêu cầu chia tài sản chung thì cũng khó vì người anh trai bạn không chịu nhìn nhận căn nhà cha mẹ để lại là tài sản chung chưa chia thì không có cơ sở để khởi kiện tranh chấp tài sản chung.