Hiển thị các bài đăng có nhãn di chúc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn di chúc. Hiển thị tất cả bài đăng

Bị truất quyền thừa kế nếu làm giả di chúc

Unknown | 18:38 | 0 nhận xét
Hỏi: Ba chồng tôi mất đột ngột năm 2011 không trăn trối gì lại, chồng tôi trong lúc thiếu suy nghĩ đã làm giả di chúc của cha để được thừa kế căn nhà...

Mới rồi chị chồng và em chồng tôi biết chuyện nên định tố cáo. Xin hỏi nếu chia lại di sản, chồng tôi có bị truất quyền thừa kế và liệu có bị xử tù không?

Hoa Sen (hoasensg2008@....)

Trả lời:

Theo quy định tại điểm d khoản 1 điều 643 bộ luật Dân sự năm 2005 thì những người sau đây không được quyền hưởng di sản: “… Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản”. Nếu chị và em chồng bà chứng minh được việc chồng bà giả mạo chữ viết, chữ ký cha mình để hưởng một phần hoặc toàn bộ tài sản của cha thì chồng bà sẽ mất quyền hưởng di sản.

Trường hợp chồng bà không những giả mạo chữ ký, chữ viết của cha mà còn làm giả tài liệu, con dấu của uỷ ban nhân dân xã/phường hoặc phòng công chứng để lập di chúc dưới hình thức chứng thực hoặc công chứng nhằm lừa dối cá nhân, cơ quan, tổ chức để chiếm đoạt tài sản, thì chồng bà có thể còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo quy định của luật Hình sự.

Ls Bùi Bảo Trâm, Đoàn Luật sư Tp.HCM
Theo SGTT

Lập di chúc không cần công chứng, chứng thực

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Tôi nghe nói việc lập di chúc phải thực hiện việc công chứng, chứng thực hoặc phải có người làm chứng mới hợp pháp, vậy có đúng không?
Di chúc của tôi lập không có người làm chứng, không được công chứng, chứng thực thì có giá trị để các con tôi nhận thừa kế không?

(Trần Thị Thu Lan, Đồng Nai)

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005, ông có thể lựa chọn một trong các hình thức lập di chúc sau: di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; di chúc bằng văn bản có người làm chứng; di chúc có công chứng hoặc chứng thực. Cả ba loại di chúc này đều có giá trị pháp lý như nhau, tuy nhiên đối với từng trường hợp, phải tuân thủ các quy định cụ thể thì di chúc mới được xem là hợp pháp.

Lập di chúc không cần công chứng, chứng thực | ảnh 1
Người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt khi lập và không bị đe dọa

Về nguyên tắc chung, việc lập di chúc dù bằng hình thức nào nêu trên cũng phải phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 652 Bộ luật Dân sự 2005: người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép; nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

Nếu ông lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, không có công chứng hoặc chứng thực thì theo quy định tại Điều 653, Điều 655 Bộ luật dân sự 2005, việc lập di chúc của ông phải đảm bảo các điều kiện sau:

Ông phải tự tay viết và ký vào bản di chúc; phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc; họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; di sản để lại và nơi có di sản; việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ; di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Như vậy, theo các quy định chúng tôi viện dẫn trên, ông có thể tự lập di chúc khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật mà không cần công chứng, chứng thực hay cần phải có người làm chứng, vì giá trị pháp lý của các hình thức di chúc được lập hợp pháp là như nhau.
Ls Phạm Phùng Trọng Nghĩa
Công ty Luật hợp danh FDVN

Theo VietQ

Nhà chưa có "sổ hồng" lập di chúc thế nào?

Unknown | 16:36 | 0 nhận xét

Hỏi: Vợ chồng tôi có một căn nhà nhưng chưa làm giấy tờ chủ quyền. Mới đây, vợ tôi đã qua đời...
Xin hỏi, tôi muốn làm di chúc hoặc tặng một nửa căn nhà của tôi cho một người con (trong tổng số 3 người con) thì có được không?
Nguyễn Ngọc Thiên (Đường Nguyễn Đình Chính, phường 7, quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh)

Trả lời:

Theo Khoản 1d, Điều 35; Điều 46; khoản 2, Điều 48 Luật Công chứng thì người yêu cầu công chứng di sản phải nộp bản sao Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng. Do đó, khi căn nhà mà ông nêu chưa có giấy chủ quyền thì ông không thể đi công chứng di chúc để định đoạt một nửa căn nhà.

Nếu mẹ vợ của ông đã chết thì ông và ba người con có thể đi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở. Theo khoản 3, Điều 4 Thông tư 17 ngày 21-10-2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trường hợp nhiều người được thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở mà khi cấp giấy chứng nhận chưa phân chia thừa kế cho từng người thì cơ quan chức năng cấp một giấy chứng nhận cho người đại diện theo thoả thuận của những người được thừa kế (trong trường hợp của ông thì ông có thể làm người đại diện). Sau khi có giấy chứng nhận (sổ hồng), ông có thể làm di chúc hoặc làm thủ tục chuyển nhượng phần nhà thuộc sở hữu của ông cho một người con.n
Luật gia Nguyễn Văn Khôi
Theo Công lý

Thủ tục làm giấy tờ sử dụng đất khi không có di chúc của cha mẹ

Unknown | 19:32 | 0 nhận xét
Câu hỏi: Em chào anh(chị), anh(chị) cho em hỏi vấn đề sau ạ. 

Bố mẹ em có 6 người con, có 2 người con trai. Theo phong tục ở quê em tài sản của bố mẹ sẽ để lại cho các con trai. Anh cho em hỏi thủ tục để chuyển tên sổ đỏ tên bố em (Bố mẹ em đã mất 7 năm rồi) sang cho hai anh em em. Nhà em không có tranh chấp nào, các anh chị hoàn toàn đồng ý với phân chia tài sản trên. Anh làm ơn hướng dẫn cho em các thủ tục và giấy tờ cần thiết. 

Em xin cảm ơn.


Kính gửi: Quý bạn đọc


Theo quy định tại Điều 49, Điều 50 của Luật Công chứng, bạn phải đến cơ quan công chứng làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế và ngoài những văn bản từ chối (hoặc tặng cho) này:

- Xác định di sản thừa kế và diện thừa kế 

- Thông báo và niêm yết về việc mở thừa kế 

- Xác lập Văn bản thỏa thuận về phân chia di sản thừa kế Sau khi nhận được thông báo niêm yết về việc mở thừa kế, những người thuộc diện thừa kế tiến hành thủ tục khai nhận và phân chia di sản thừa kế tại phòng công chứng. 

- Phân chia di sản thừa kế Thực hiện thủ tục tại Văn phòng nhà đất: 

- Nhận Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. 

HỒ SƠ, GIẤY TỜ CẦN CHUẨN BỊ 


Hồ sơ pháp lý các bên khai nhận di sản thừa kế: 

1. CMND hoặc hộ chiếu (bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực) của từng người

2. Hộ khẩu (bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực) 

3. Giấy đăng ký kết hôn, giấy xác nhận hôn nhân thực tế hoặc xác nhận độc thân (bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực)

4. Hợp đồng ủy quyền (02 bản sao có chứng thực), giấy ủy quyền (nếu xác lập giao dịch thông qua người đại diện) 

5. Giấy khai sinh, Giấy xác nhận con nuôi; bản án, sơ yếu lý lịch, các giấy tờ khác (bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực) chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người thừa kế 

6. 02 Văn bản khai nhận thừa kế (đã được công chứng) 

Hồ sơ pháp lý của người đề lại di sản thừa kế 


1. Giấy chứng tử (bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực) của người để lại di sản, giấy báo tử, bản án tuyên bố đã chết (bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực). 

2. Giấy đăng ký kết hôn, giấy xác nhận hôn nhân thực tế hoặc xác nhận độc thân (bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực) 

Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản là di sản thừa kế 

 Một trong các loại Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng/quyền sở hữu như sau: (01 Bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực) 

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 

- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, 

- Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình trên đất, các loại giấy tờ khác về nhà ở (bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực); 

- Giấy phép mua bán, chuyển dịch nhà cửa 

- Giấy tờ hợp thức hóa do UBND quận/huyện cấp. 

2. 02 bản Hồ sơ kỹ thuật thửa đất do cơ quan có chức năng đo đạc lập 

3. 02 đơn cấp lại (nếu cấp lại sổ đỏ) 

Tranh chấp tài sản thừa kế không di chúc

Unknown | 17:54 | 0 nhận xét
Câu hỏi:

Gia đình tôi có một ngôi nhà tổ (nhà từ đường) do ông bà để lại ở Long An. Ông bà ngoại tôi có 4 người con. Nhưng cậu hai và dì tư của tôi thoát ly gia đình từ năm 15 tuổi (lên Sài Gòn và đi kháng chiến rồi không về ở nhà đó nữa), còn lại dì ba và mẹ của tôi sống ở đấy. Đến năm 1945, 1948 ông bà ngoại tôi mất nhưng không để lại di chúc. Sau đó dì ba tôi đứng tên chủ hộ căn nhà, rồi sau này chuyển quyền chủ hộ căn nhà cho anh ruột tôi (vì dì tôi không còn chồng con). 

Từ sau năm 1975, mẹ tôi là người đã có công xây dựng, sửa chữa và chăm sóc toàn bộ căn nhà, mảnh vườn. Mẹ tôi có 2 người con, anh trai tôi và tôi cũng đều sống ở đấy. Hiện nay, cậu 2 tôi đã mất, nhưng còn 5 người con sống tại Sài Gòn. Dì tư tôi 83 tuổi còn sống hiện cũng ở Sài Gòn cùng 2 con của dì. Còn dì ba và mẹ tôi đã mất từ năm 2000. Gần đây, các anh chị họ của tôi, thậm chí cả chị dâu cũng luôn "dòm ngó" và muốn tranh giành ngôi nhà, mảnh vườn này, mặc dù họ chưa bao giờ sống và chăm sóc đến chúng.

Tôi muốn hỏi, 

1. Căn nhà và mảnh vườn đó có là tài sản chung không? nếu có, thì có bị phân chia không? nếu phân chia thì chia cho những ai? 

2. Anh trai tôi là chủ hộ, vậy anh ấy có được quyền sở hữu và quyết định căn nhà đó không? Mẹ và anh em chúng tôi đã có công thờ cúng và chăm sóc ngôi nhà ấy, vậy chúng tôi có được quyền giữ lại căn nhà để thờ phụng ông bà tổ tiên không? chúng tôi không muốn bán ngôi nhà tổ này, vì nơi đây như ngôi nhà chung để họp mặt và cúng kiến ông bà vào những ngày giỗ, tết. 

Xin cho chúng tôi một sự tư vấn hợp tình, thấu lý để chúng tôi có thể tiếp tục giữ gìn truyền thống văn hoá tốt đẹp từ trong ngôi nhà từ đường mà ông bà tôi đã gầy dựng lên, đồng thời cho các anh em họ và dì tôi phải tâm phục, khẩu phục mà không nghĩ đến chuyện tranh giành của cải một cách vô ý thức. 

Xin chân thành cảm ơn!


Kính gửi: Quý bạn đọc


Theo quy định thì quá 10 năm thì hết thời hiệu về khởi kiện thừa kế. Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP quy định, không áp dụng thời hiệu khi: 

Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung và cần phân biệt như sau: 

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc. 

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ. 

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung. 

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản".

Tuy nhiên , do phần tài sản này hiện đã đứng tên của Anh trai bạn, nếu họ có khởi kiện ra Tòa để yêu cầu chia tài sản chung thì cũng khó vì người anh trai bạn không chịu nhìn nhận căn nhà cha mẹ để lại là tài sản chung chưa chia thì không có cơ sở để khởi kiện tranh chấp tài sản chung.

Di chúc miệng như thế nào mới có hiệu lực?

Unknown | 19:23 | 0 nhận xét
Câu hỏi: Ông nội tôi mất năm 2009 có di chúc miệng là để lại 600m2 cho bác gái tôi (không lấy chồng và mất năm 2010) và chú tôi là 1108m2, trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất người đứng tên là ông tôi nhưng tôi thấy trong giấy chứng nhận sau tên của ông tôi có ghi ( và vợ 2...), ông tôi có 2 vợ: vợ cả là bà nội tôi (mất năm 1960) có 5 người con (2 trai và 3 gái, bác gái là con của bà nội tôi) còn chú là con của bà 2 vẫn còn sống (có 3 người con 1 trai và 2 gái)

-Bác gái tôi mất có di chúc lại quyền thừa kế cho 2 người con nuôi

-Ông tôi đã họp gia đình trước lúc mất để phân chia 2 lần nhưng chú tôi không nhận

- Ông tôi được thừa hưởng quyền thừa kế của cụ ngoại tôi để lại cho bà nội tôi (vợ cả của ông tôi) Nếu việc phân chia giữa gia đình không tuân theo di chúc miệng của ông nội tôi thì việc giải quyết sẽ thế nào và phân chia ra sao?

Em mong anh hoặc chị trả lời giúp em ạ!


Kính gửi: Quý bạn đọc


Theo quy định tại khoản 5 Điều 652 Bộ luật dân sự quy định về di chúc hợp pháp.

“ Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực”

- Nếu di chúc miệng của ông nội bạn không đáp ứng được điều kiện trên thi di chúc này không có hiệu lực pháp luật.

Ông của bạn được thừa hưởng quyền thừa kế của cụ ngoại, nhưng bạn đã nói trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi tên ông của bạn và người vợ sau, có nghĩa ông của bạn đã sáp nhập phần tài sản của mình vào khối tài sản chung.

- Nếu di chúc miệng của ông bạn đáp ứng điều kiện hợp pháp thì nó chỉ có hiệu lực một phần đối với 1 nửa tài sản trong khối tài sản chung.

Phần di sản này sẽ được chia theo pháp luật, hàng thừa kế thứ nhất sẽ được hưởng phần di sản này, theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự:

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.”

Con không phân biệt con trong giá thú hay ngoài giá thú.