Hiển thị các bài đăng có nhãn tranh chấp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tranh chấp. Hiển thị tất cả bài đăng

Con tự ý đổi bằng khoán, mẹ có đòi lại được nhà?

Unknown | 20:27 | 0 nhận xét
Hỏi: Bà nội tôi nay đã hơn 90 tuổi, nhà và đất ruộng là của bà. Năm 1998, bà gần 80 tuổi đã yếu nên chú Út tôi tự ý đi đổi bằng khoán qua cho chú Út đứng tên.
Nay vợ chồng chú Út làm ăn thua lỗ bị kiện, Nhà nước đã cưỡng chế lấy hết tài sản này để thi hành án. Vậy bà nội tôi có thể lấy lại phần nào của tài sản này không vì đây vốn là tài sản của bà, hơn nữa bà đã già yếu mà lấy mất nhà thì bà không biết sống ở đâu.

Nguyễn Hoàng Phương, Đồng Tháp

Trả lời:

Nếu bà nội của bạn đã có “bằng khoán điền thổ” được cơ quan thuộc chế độ cũ cấp và chú Út bạn tự ý sang tên cho chú ấy thì bà nội của bạn có thể khởi kiện để đòi lại phần tài sản của bà tại TAND dân có thẩm quyền. Khi toà án thụ lý vụ án để giải quyết thì cơ quan thi hành án sẽ hoãn thi hành án theo quy định tại điều 48 luật Thi hành án. Như vậy, bà của bạn có thể sẽ giữ lại được một phần tài sản của mình nếu bà có chứng cứ chứng minh cho việc bà đã được cấp bằng khoán và chú Út của bạn tự ý sang tên không có sự chấp thuận của bà.

Xin lưu ý, trước khi khởi kiện vụ án này tại TAND có thẩm quyền, bà của bạn phải gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai với chú Út lên UBND cấp xã nơi có đất để được tổ chức hoà giải. Kết quả hoà giải, nếu không thành là cơ sở để toà án thụ lý giải quyết vụ án của bạn. Nếu bà của bạn đã yếu không có khả năng tham gia thực hiện các thủ tục pháp lý thì có thể uỷ quyền cho người khác thực hiện bằng văn bản có xác nhận của phòng công chứng.

LS Nguyễn Văn Hậu
Theo SGTT

Tranh chấp tài sản thừa kế giữa anh chị em ruột

Unknown | 18:45 | 0 nhận xét
Hỏi: Trước đây ba mẹ tôi có mua nhà bằng giấy tay và sau có làm hộ khẩu do ba tôi đứng tên chủ hộ. Do ba mẹ lớn tuổi và tôi cũng là con út trong nhà nên ba mẹ muốn tôi đứng tên căn nhà đồng thời làm chủ hộ.

Tôi làm giấy tờ đứng tên quyền sở hữu nhà, ba mẹ tôi cũng biết điều đó và không có ý kiến gì. Vậy hỏi luật sư trường hợp này, các anh và chị của tôi có được hưởng phần di sản thừa kế từ ngôi nhà này khi ba mẹ tôi mất? Lê Bá (Hà Nội)

Trả lời:

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Vì giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở đứng tên bạn nên thuộc quyền quản lý, sử dụng và định đoạt của bạn.

Nếu việc bố mẹ bạn tặng cho bạn ngôi nhà là có thật và bạn thực hiện đầy đủ hồ sơ và thủ tục tại Cơ quan quản lý nhà ở cấp quận/huyện trong khi làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất ở thì việc sở hữu nhà của bạn là hoàn toàn hợp pháp, bố mẹ của bạn không còn liên quan đến quyền sở hữu ngôi nhà, do đó anh chị em của bạn không có quyền yêu cầu chia thừa kế từ ngôi nhà sau khi bố mẹ bạn qua đời.

Thủ tục tặng cho tài sản là nhà, đất được tiến hành theo quy định của pháp luật với những hồ sơ chuyển dịch quyền sở hữu nhà ở do tặng cho như sau:

- Hợp đồng tặng cho có chứng nhận của công chứng Nhà nước;

- Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở của bên tặng cho;

- Bản khai nộp thuế thu nhập cá nhân và Bản khai nộp lệ phí trước bạ nhà, đất (do cơ quan quản lý nhà ở cung cấp tại nơi tiếp nhận hồ sơ);

- Bản sao Sổ hộ khẩu, Giấy khai sinh nếu các bên tặng cho có quan hệ gia đình như: Cha mẹ, con, anh chị em ruột để làm cơ sở miễn thuế chuyển quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (sổ đỏ) có thể bị xem xét lại nếu có sự khai báo nguồn gốc tài sản không trung thực hoặc do sơ suất thiếu trách nhiệm của cơ quan cấp sổ đỏ đã không xem xét kỹ và thực hiện theo đúng thủ tục theo quy định của pháp luật.

Trường hợp có khiếu nại hoặc khởi kiện mà phát hiện ra sự việc này, theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì quyền sở hữu ngôi nhà của bạn có thể bị hủy bỏ và ngôi nhà này vẫn thuộc quyền sở hữu của bố mẹ bạn và được chia thừa kế theo quy định của pháp luật thừa kế nếu bố mẹ bạn không để lại di chúc.

Luật sư Nguyễn Phú Thắng
Theo GiadinhNet

Việc mua bán nhà bị tòa tuyên vô hiệu?

Unknown | 20:20 | 0 nhận xét
Hỏi: Năm 2009 tôi có mua một mảnh đất (chuyển quyền sở hữu vốn góp), do là đất dự án nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo quy định của dự án, sau khi xây nhà xong mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Việc mua bán chỉ có giấy viết tay và có người làm chứng là ông tổ trưởng tổ dân phố chứ không có công chứng hoặc xác nhận của UBND phường. Có giấy ủy quyền của người bán cho tôi được làm các giấy tờ, thủ tục liên quan đến mảnh đất, được công chứng viên chứng thực. Kèm theo phiếu thu nộp tiền cho ban quản lý dự án (bản gốc). Nay tôi ra ban quản lý dự án xin phép làm nhà trên mảnh đất đó thì ban quản lý dự án cho biết mảnh đất tôi mua hiện đang có quyết định của cơ quan thi hành án thành phố không cho xây nhà hoặc chuyển nhượng cho người khác. Xin luật sư vui lòng tư vấn giúp tôi:

Vì là đất dự án nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên việc mua bán chỉ có giấy viết tay, kèm theo giấy ủy quyền như vậy có giá trị pháp lý gì không? Lô đất tôi mua tháng 11/2009 nhưng quyết định của cơ quan thi hành án ký ngày 21/6/2011 như vậy có đúng không?

Tôi có thể nộp đơn khởi kiện người bán ra tòa án dân sự được không? Nếu được thì thủ tục khởi kiện như thế nào? Nộp án phí ở đâu, thủ tục nộp thế nào? Nộp ngay khi khởi kiện hay chờ tòa án thụ lý hồ sơ xong mới nộp?

(binhfcp@... )

Trả lời

Theo quy định tại Điều 106, Luật đất đai 2003 được sửa đổi bổ sung năm 2009 thì người sử dụng đất chỉ được chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

- Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

- Đất không có tranh chấp;

- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

- Trong thời hạn sử dụng đất.

Hơn nữa, theo quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 119 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27-1-2006) thì hợp đồng hoặc giấy tờ khi người sử dụng đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn.

Như vậy, việc nhận chuyển nhượng đất của bạn được thực hiện khi chính người chuyển nhượng cũng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là đã vi phạm Điều 106 Luật đất đai. Hơn nữa, hợp đồng chuyển nhượng đất lại không được công chứng hoặc chứng thực theo như quy định dẫn chiếu ở trên là vi phạm về mặt hình thức khi thực hiện giao dịch.

Cần nói thêm, việc bạn có giấy ủy quyền của người bán để bạn làm các giấy tờ, thủ tục liên quan đến mảnh đất, được công chứng viên chứng thực và kèm theo phiếu thu nộp tiền cho ban quản lý dự án (bản gốc) là không có giá trị gì về mặt pháp lý vì giao dịch chuyển nhượng của bạn ngay từ đầu đã không hợp pháp. Chính vì việc mua bán của bạn không được pháp luật công nhận nên quyết định của cơ quan thi hành án ký ngày 21-6-2011 đối với diện tích đó là đúng với quy định của pháp luật.

Từ những dẫn chiếu trên có thể thấy giao dịch chuyển nhượng đất của bạn sẽ bị tòa án tuyên vô hiệu khi các bên có tranh chấp. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Bạn có thể làm đơn kiện kèm theo tài liệu liên quan lên tòa án có thẩm quyền (có thể là tòa án nơi có bất động sản), yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Sau khi tòa án nhận đơn thì trong 5 ngày làm việc tòa án sẽ tiến hành thụ lý vụ việc (nếu thuộc thẩm quyền của tòa án) và tòa án sẽ thông báo cho bạn về việc nộp tiền tạm ứng án phí. Tòa án sẽ thụ lý vụ án tính từ thời điểm bạn nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí.

Trân trọng,

Luật sư Lê Thị Hoài Giang
Theo TTO

Sử dụng tường chung như thế nào cho hợp lý?

Unknown | 18:46 | 0 nhận xét
Hỏi: Nhà tôi và nhà bên cạnh có chung bức tường từ trước. Nay tôi chuẩn bị xây nhà nên quyết định sẽ bỏ bức tường cũ cho nhà bên cạnh và sẽ xây bức tường mới để không làm ảnh hưởng đến nhà bên cạnh.

Nhưng khi tôi thuê vẽ thiết kế nhà và đem đi đăng ký xin phép xây dựng thì UBND quận nói là tôi phải lùi bản vẽ vào 15cm theo nguyên tắc thì mới cho tôi xây dựng tường mới (nhà tôi đo chiều ngang tính từ chạm mí bức tường chung phía bên tôi đến ranh giới nhà bên kia là 4m, nay phải lùi vào 15cm thì chỉ còn 3,85m). Tôi xin hỏi như vậy có đúng không?

Cách khác: tôi sẽ thỏa thuận với nhà có bức tường chung là tôi đập tường chung đi và sẽ lấy tim giữa để xây tường mới lên, như thế có được không, và nhà kế bên vẫn sử dụng tường nhà tôi để ở khi nào xây dựng thì xây tường mới riêng, không sử dụng chung tường của tôi nữa, như vậy có được không? Trường hợp này thì xin phép xây dựng ra sao?

Trần Anh Hùng (herotran117@...)

Trả lời

1. Về diện tích đất khi xin phép xây dựng

- Căn cứ Khoản 2 Điều 265 Bộ Luật dân sự (BLDS), người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất, phù hợp với quy hoạch xây dựng, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất liền kề của người khác.

- Căn cứ Khoản 1 Điều 266 BLDS thì chủ sở hữu bất động sản liền kề chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình.

- Căn cứ Khoản 2 Điều 266 BLDS, trong trường hợp nhà xây riêng biệt nhưng tường sát liền nhau thì chủ sở hữu cũng chỉ được đục tường, đặt kết cấu xây dựng đến giới hạn ngăn cách tường của mình.

- Căn cứ Điều 268 BLDS thì khi đào giếng, đào ao hay xây dựng các công trình dưới mặt đất, chủ sở hữu công trình phải đào, xây cách mốc giới một khoảng cách do pháp luật về xây dựng quy định.

Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên thì về nguyên tắc, ông có quyền xây dựng nhà trên phần đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình.

Hiện nay, theo quy chuẩn xây dựng Việt Nam thì chưa quy định một cách cụ thể đối với trường hợp khi xây nhà thì chủ sở hữu bất động sản liền kề phải xây móng cách móng nhà bên cạnh là bao nhiêu.

Tuy nhiên, đối với trường hợp thực tế của ông, do hai căn nhà sử dụng chung một bức tường, nếu khi xây dựng nhà mới ông tự nguyện không sử dụng bức tường chung hữa, đồng nghĩa với việc ông không sử dụng phần đất làm nền móng của bức tường chung, cũng như móng và đà của nó. Thông thường, nền móng của bức tường sẽ lớn hơn bức tường khoảng 20-30cm.

Vì lẽ đó, khi xin giấy phép xây dựng, cơ quan cấp phép xây dựng yêu cầu ông phải làm phần móng cách tường cũ khoảng 15cm là muốn bảo vệ phần móng của tường chung không bị ảnh hưởng. Đây là lý do mà theo suy đoán của chúng tôi là có căn cứ nhất.

2. Về việc thỏa thuận sử dụng tường chung

Căn cứ Điều 266 BLDS, ông có quyền thỏa thuận với chủ sở hữu đang sử dụng chung với ông bức tường về giải pháp mà ông đã nêu trong thư, nếu chủ nhà bên cạnh đồng ý thì hai bên phải lập văn bản ghi nhận thỏa thuận của hai bên, có xác nhận chữ ký của UBND phường làm căn cứ cho cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp phép xây dựng cho ông.

Trân trọng,

Luật sư Phạm Đình Sơn
Theo TTO

Tranh chấp nhà đất chưa có giấy chứng nhận

Unknown | 18:26 | 0 nhận xét
Hỏi: Nhà tôi có ba người gồm tôi, mẹ và chị gái tôi. Lúc còn sống ba tôi có mua căn nhà bằng giấy tay ở Bình Chánh (Tp.HCM) và để hai chị em tôi cùng đứng tên trên giấy mua bán. Nay tôi đã dọn ra ngoài sống cùng chồng con (ở nhà thuê), để nhà đó cho mẹ và chị gái tôi sinh sống.

Giấy tờ mua bán nhà hiện do mẹ và chị gái tôi đang giữ. Giờ tôi về nhà thì mẹ và chị gái tôi không cho vào nhà. Mẹ và chị tôi định bán hoặc thế chấp nhà đó mà không cần sự có mặt hay chữ ký của tôi. Hộ khẩu cả gia đình tôi xưa giờ vẫn ở quận 1 (nhà ở quận 1 vốn cũng là nhà tôi nhưng đã bán để chia đều cho ba tôi và các chú, bác) và chưa chuyển về nhà mới này.

Xin hỏi với tình trạng nhà giấy tờ tay như thế liệu có thể giao dịch, mua bán? Mẹ và chị gái tôi có cách nào tự bán hay cầm cố được nhà mà không cần có mặt tôi hay sự đồng ý của tôi? Nếu mẹ hoặc chị giả mạo chữ ký của tôi để giao dịch thì có được không?

Luat Hoi (hoi_luat@... )

Trả lời

Theo thư của bạn, tôi hiểu rằng nhà của bạn đã được mua bằng giấy tay và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở.

Theo Khoản 1 điều 91 Luật nhà ở, trong các giao dịch về mua bán, tặng cho, đổi, thừa kế, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở thì nhà ở phải đủ các điều kiện sau đây: có giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở theo quy định của pháp luật; không có tranh chấp về quyền sở hữu; không bị kê biên để thi hành án hoặc để chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do căn nhà chưa được cấp giấy chứng nhận nên mẹ bạn không thể bán hoặc thế chấp nhà tại bất kỳ tổ chức tín dụng.

Trường hợp mẹ bạn bán nhà bằng giấy tay hoặc thế chấp nhà cho các tổ chức, cá nhân không có đăng ký hoạt động tín dụng theo quy định thì bạn có quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu theo Điều 128 Bộ luật dân sự do vi phạm điều cấm của pháp luật.

Mọi trường hợp giả mạo giấy tờ hoặc chữ ký là trái pháp luật và có thể yêu cầu tòa án xét xử, tiến hành giám định để tuyên giao dịch vô hiệu.

Đối với tranh chấp về quyền sở hữu nhà, trường hợp các bên không thể tự thỏa thuận và UBND phường xã hòa giải không thành, một trong các bên có thể khởi kiện tại tòa án nhân dân quận nơi có nhà để được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong thư, bạn không nêu cụ thể thời gian mua nhà, song căn cứ theo nguyên tắc của pháp luật về hôn nhân và gia đình, căn nhà này lúc trước tuy do chị em bạn đứng tên trên giấy tay mua bán, song thực chất là mua bằng tài sản của cha bạn thì căn nhà này được xem là tài sản chung của cha mẹ bạn, mỗi người ½ giá trị tài sản.

Khi cha bạn mất đi, ½ căn nhà của cha bạn được xem là di sản thừa kế và sẽ được chia đều cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất là mẹ và hai chị em bạn, mỗi người 1/6 giá trị căn nhà.

Trân trọng.

Luật sư Huỳnh Văn Nông
Theo TTO

Làm sổ khi mua đất chỉ có giấy tay

Unknown | 22:48 | 0 nhận xét
Năm 1998 mẹ tôi có mua một mảnh đất 60m2 nhưng chỉ có biên bản thỏa thuận chuyển quyển sử dụng đất viết tay có chữ ký của 2 vợ chồng bên bán và giấy nhận tiền viết tay không có công chứng mà chỉ có chữ ký của người làm chứng. Từ ngày đó đến nay mảnh đất không xảy ra tranh chấp gì. 

Đến nay mẹ tôi muốn làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên mẹ tôi nhưng vợ chồng bên bán không chịu cấp cho mẹ tôi sổ hộ khẩu, CMND của 2 người, giấy đăng ký kết hôn của 2 người để mẹ tôi làm hợp đồng công chứng không đồng ý ký vào hợp đồng chuyển nhượng công chứng. 

Vậy mẹ tôi phải làm thế nào để có thể làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và mẹ tôi có thể kiện vợ chồng bên bán không và nếu có khởi kiện thì tòa sẽ xử như thế nào?

Kính gửi: Quý bạn đọc

Theo quy định tại tiểu mục 2.3 mục II. Về thừa kế, tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất Nghị quyết Số: 02/2004/NQ-HĐTP NGHỊ QUYẾT CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại mục 2.3

Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ sau này 15/10/1993:

a) Điều kiện để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Theo qui định tại Điều 131, các điều từ Điều 705 đến Điều 707 và Điều 711 của Bộ luật Dân sự, khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 31 của Luật Đất đai năm 1993 và khoản 1 Điều 106, điểm b khoản 1 Điều 127, khoản 1 Điều 146 của Luật Đất đai năm 2003, thì Toà án chỉ công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi hợp đồng đó có đầy đủ các điều kiện sau đây:

a.1. Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có năng lực hành vi dân sự;

a.2. Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn tự nguyện;

a.3. Mục đích và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không trái pháp luật, đạo đức xã hội;

a.4. Đất chuyển nhượng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003;

a.5. Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện về nhận chuyển nhượng theo qui định của pháp luật;

a.6. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền.

Theo đó, trường hợp của bạn đã vi phạm điểm a.6 tiểu mục 2.3. do vậy, để xem xét hợp đồng có vô hiệu hay không thì nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng. Nếu bên nhận chuyển nhượng chỉ làm nhà trên một phần đất, thì Toà án công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất có nhà ở và huỷ phần hợp đồng đối với diện tích đất còn lại, buộc bên nhận chuyển nhượng giao trả phần đất đó cho bên chuyển nhượng, trừ trường hợp việc giao trả không bảo đảm mục đích sử dụng cho cả hai bên giao kết hợp đồng, đồng thời buộc các bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch.

Trường hợp còn lại thì hợp đồng của mẹ bạn và người bán sẽ vô hiệu. Khi xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, thì tuỳ từng trường hợp Toà án áp dụng quy định của điều luật tương ứng từ Điều 136 đến Điều 138, từ Điều 140 đến Điều 145 và Điều 146 của Bộ luật Dân sự để xác định thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và xử lý hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.
Theo Diaoconline

Đất dôi ra do lấn chiếm sẽ bị xử lý thế nào?

Unknown | 19:44 | 0 nhận xét
Hỏi: Năm 1990, gia đình ông T. được giao sử dụng 120m2 đất thổ cư, diện tích đất này được thể hiện trên bản đồ và sổ địa chính. Năm 1993 gia đình ông xây tường bao quanh diện tích trên. Năm 2005, UBND huyện có chủ trương xét và cấp GCNQSDĐ cho nhân dân trong xã...

Khi đo đạc thực tế diện tích đất thực tế gia đình ông T. là 190m2, do khi ông xây tường đã lấn sang đất công làm sân kho của HTX Nông nghiệp. Xin hỏi, diện tích thừa đó được xử lý như thế nào? Hành vi lấn chiếm đó có bị xử lý gì không?

Phan Minh Tuấn, Biên Hoà, Đồng Nai

Trả lời:

Hành vi lấn chiếm đất đai là một trong những hành vi bị cấm theo quy định luật Đất đai 2003. Hành vi này sẽ bị xử phạt hành chính theo nghị định 106/2009/NĐ-CP ngày 11.11.2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, theo đó hành vi lấn chiếm đất của hộ gia đình ông T. có thể bị phạt tiền từ 500.000 – 100.000.000 đồng và bị buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm.

Tuy nhiên pháp luật đất đai hiện nay có một số ngoại lệ đối với đất lấn chiếm, tạm chia hai trường hợp như sau:

Trường hợp 1: hành vi lấn chiếm, sử dụng đất Hợp tác xã Nông nghiệp của gia đình ông T. diễn ra trước 15.10.1993:

Theo quy định tại nghị định 84/2007/NĐ-CP thì về nguyên tắc do tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất hộ gia đình ông T. đã có hành vi “lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng, đất của tổ chức” thì sẽ không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là giấy chứng nhận) đối với phần diện tích đất do lấn, chiếm. Tuy nhiên, trong trường hợp hộ gia đình ông T. đang sử dụng đất lấn, chiếm (70m2) nhưng phù hợp với quy hoạch tại thời điểm cấp giấy chứng nhận thì sẽ được cấp giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức quy định pháp luật đất đai.

Trường hợp 2: hành vi lấn chiếm, sử dụng đất Hợp tác xã Nông nghiệp của gia đình ông T. diễn ra sau ngày 15.10.1993:

Theo quy định tại nghị định 84/2007/NĐ-CP thì trong trường hợp nếu hộ gia đình ông T. đang sử dụng đất do lấn, chiếm trong khoảng thời gian từ ngày 15.10.1993 đến trước ngày 1.7.2004 thì sẽ không được cấp giấy chứng nhận nhưng được tạm thời sử dụng đất theo hiện trạng cho đến khi có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

LS Nguyễn Văn Hậu
Theo SGTT

Tranh chấp quyền thừa kế ngôi nhà 30 tỷ đồng

Unknown | 09:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Bố mẹ tôi sinh được 6 người con (2 trai và 4 gái). Sau khi ông bà mất đi để lại tài sản là một ngôi nhà trị giá ước tính là 30 tỷ VNĐ. Giấy tờ nhà hiện giờ vẫn để tên ông bà...
Theo như chúng tôi được biết thì ông bà không để lại di chúc. Hiện nay, giữa các anh chị em đã có sự xích mích trong vấn đề chia tài sản đó. Hai anh trai cả muốn chiếm căn nhà để ở và sau này khi chết đi sẽ để lại cho con cái anh ấy nhưng các em thì không đồng ý. Các anh đã dùng những hành động thiếu văn hóa, thiếu tình cảm để đe dọa các em. Sau khi không thành công hai anh đã đưa ra một bản di chúc nói là của ông để lại và được các em đánh giá là làm giả.

Các em yêu cầu là cho xin bản di chúc đó (bản photo cũng được) nhưng các anh nhất mực từ chối và nói là để khi nào sửa nhà xong sẽ đưa cho xem. Nội dung bản di chúc được đưa ra đó là chúng tôi được 1/10 giá trị ngôi nhà đó nhưng với điều kiện ngôi nhà đó được bán. Nhưng chúng tôi biết các anh sẽ không bán ngôi nhà đó vì ngôi nhà đó ở vị trí kinh doanh rất tốt và kinh tế các anh đủ dư dả để không cần phải bán nhà để sống.

Hiện tại, ba em gái út quyết đưa vụ việc này ra tòa nhờ được xét xử để lấy lại công bằng. Tôi mong luật sư có thể giải đáp giúp tôi những thắc mắc sau:

- Khi các anh chúng tôi sửa nhà chúng tôi phải làm những gì để ngăn việc này khi ngôi nhà đang xảy ra tranh chấp?

- Các thủ tục để gửi đơn kiện và phải gửi đơn kiện đến những các cơ quan chức năng nào?

- Mức phí chúng tôi phải trả để kiện?

- Khả năng thắng kiện của chị em tôi có cao không?

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật, khi bố mẹ bạn mất mà không để lại di chúc, phần di sản để lại sẽ được chia theo pháp luật khi có yêu cầu (hoặc khi các đồng thừa kế không thỏa thuận được sự phân chia di sản thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết).

Theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự: Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Do vậy, trường hợp của bạn vừa nêu, thì 6 anh em của bạn sẽ là những người được hưởng di sản thừa kế đó và sẽ được hưởng phần bằng nhau.

Vì vậy, việc tranh chấp di sản thừa kế của bạn có thể nộp tại tòa án nhân dân huyện (nếu các anh chị em không có người nào ở nước ngoài) để được thụ lí giải quyết. Các thủ tục để gửi đơn kiện:

+ Đơn khởi kiện (theo mẫu)

+ Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: giấy khai sinh,chứng minh nhân dân, giấy chứng nhận kết hôn,sổ hộ khẩu để xác định diện và hàng thừa kế.

+ Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế

+ Bản kê khai các di sản

+ Các giấy tờ,tài liệu chứng minh sở hữu của người để lại di sản và nguồn gốc di sản của người để lại di sản.

+ Các giấy tờ khác nếu có liên quan.

c.Mức án phí mà bạn phải nộp: đây là vụ án dân sự có giá ngạch, việc đóng tạm ứng án phí dựa trên giá trị tài sản tranh chấp. Bạn có thể tham khảo thêm tại quy định của pháp lệnh về phí, án phí của tòa án.

d. Khi tòa án đã thụ lí đơn kiện của bạn thì bạn có thể yêu cầu tòa án áp dụng các biện pháp khắc phục tạm thời theo quy định tại Điều 110 Bộ luật tố tụng dân sự:

Điều 110 Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp:

Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó.

Bạn cũng cần lưu ý là theo Ðiều 645 Bộ luật dân sự về Thời hiệu khởi kiện về thừa kế thì: Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Vì vậy, bạn cũng cần xem xét về thời gian khởi kiện vẫn nằm trong thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản.
VP luật sư Giải Phóng
Theo Vietnamnet