Hiển thị các bài đăng có nhãn tranh chấp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tranh chấp. Hiển thị tất cả bài đăng

Con tự ý đổi bằng khoán, mẹ có đòi lại được nhà?

Unknown | 20:27 | 0 nhận xét
Hỏi: Bà nội tôi nay đã hơn 90 tuổi, nhà và đất ruộng là của bà. Năm 1998, bà gần 80 tuổi đã yếu nên chú Út tôi tự ý đi đổi bằng khoán qua cho chú Út đứng tên.
Nay vợ chồng chú Út làm ăn thua lỗ bị kiện, Nhà nước đã cưỡng chế lấy hết tài sản này để thi hành án. Vậy bà nội tôi có thể lấy lại phần nào của tài sản này không vì đây vốn là tài sản của bà, hơn nữa bà đã già yếu mà lấy mất nhà thì bà không biết sống ở đâu.

Nguyễn Hoàng Phương, Đồng Tháp

Trả lời:

Nếu bà nội của bạn đã có “bằng khoán điền thổ” được cơ quan thuộc chế độ cũ cấp và chú Út bạn tự ý sang tên cho chú ấy thì bà nội của bạn có thể khởi kiện để đòi lại phần tài sản của bà tại TAND dân có thẩm quyền. Khi toà án thụ lý vụ án để giải quyết thì cơ quan thi hành án sẽ hoãn thi hành án theo quy định tại điều 48 luật Thi hành án. Như vậy, bà của bạn có thể sẽ giữ lại được một phần tài sản của mình nếu bà có chứng cứ chứng minh cho việc bà đã được cấp bằng khoán và chú Út của bạn tự ý sang tên không có sự chấp thuận của bà.

Xin lưu ý, trước khi khởi kiện vụ án này tại TAND có thẩm quyền, bà của bạn phải gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai với chú Út lên UBND cấp xã nơi có đất để được tổ chức hoà giải. Kết quả hoà giải, nếu không thành là cơ sở để toà án thụ lý giải quyết vụ án của bạn. Nếu bà của bạn đã yếu không có khả năng tham gia thực hiện các thủ tục pháp lý thì có thể uỷ quyền cho người khác thực hiện bằng văn bản có xác nhận của phòng công chứng.

LS Nguyễn Văn Hậu
Theo SGTT

Tranh chấp tài sản thừa kế giữa anh chị em ruột

Unknown | 18:45 | 0 nhận xét
Hỏi: Trước đây ba mẹ tôi có mua nhà bằng giấy tay và sau có làm hộ khẩu do ba tôi đứng tên chủ hộ. Do ba mẹ lớn tuổi và tôi cũng là con út trong nhà nên ba mẹ muốn tôi đứng tên căn nhà đồng thời làm chủ hộ.

Tôi làm giấy tờ đứng tên quyền sở hữu nhà, ba mẹ tôi cũng biết điều đó và không có ý kiến gì. Vậy hỏi luật sư trường hợp này, các anh và chị của tôi có được hưởng phần di sản thừa kế từ ngôi nhà này khi ba mẹ tôi mất? Lê Bá (Hà Nội)

Trả lời:

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Vì giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở đứng tên bạn nên thuộc quyền quản lý, sử dụng và định đoạt của bạn.

Nếu việc bố mẹ bạn tặng cho bạn ngôi nhà là có thật và bạn thực hiện đầy đủ hồ sơ và thủ tục tại Cơ quan quản lý nhà ở cấp quận/huyện trong khi làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất ở thì việc sở hữu nhà của bạn là hoàn toàn hợp pháp, bố mẹ của bạn không còn liên quan đến quyền sở hữu ngôi nhà, do đó anh chị em của bạn không có quyền yêu cầu chia thừa kế từ ngôi nhà sau khi bố mẹ bạn qua đời.

Thủ tục tặng cho tài sản là nhà, đất được tiến hành theo quy định của pháp luật với những hồ sơ chuyển dịch quyền sở hữu nhà ở do tặng cho như sau:

- Hợp đồng tặng cho có chứng nhận của công chứng Nhà nước;

- Giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhà ở của bên tặng cho;

- Bản khai nộp thuế thu nhập cá nhân và Bản khai nộp lệ phí trước bạ nhà, đất (do cơ quan quản lý nhà ở cung cấp tại nơi tiếp nhận hồ sơ);

- Bản sao Sổ hộ khẩu, Giấy khai sinh nếu các bên tặng cho có quan hệ gia đình như: Cha mẹ, con, anh chị em ruột để làm cơ sở miễn thuế chuyển quyền sử dụng đất.

Tuy nhiên, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở (sổ đỏ) có thể bị xem xét lại nếu có sự khai báo nguồn gốc tài sản không trung thực hoặc do sơ suất thiếu trách nhiệm của cơ quan cấp sổ đỏ đã không xem xét kỹ và thực hiện theo đúng thủ tục theo quy định của pháp luật.

Trường hợp có khiếu nại hoặc khởi kiện mà phát hiện ra sự việc này, theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì quyền sở hữu ngôi nhà của bạn có thể bị hủy bỏ và ngôi nhà này vẫn thuộc quyền sở hữu của bố mẹ bạn và được chia thừa kế theo quy định của pháp luật thừa kế nếu bố mẹ bạn không để lại di chúc.

Luật sư Nguyễn Phú Thắng
Theo GiadinhNet

Việc mua bán nhà bị tòa tuyên vô hiệu?

Unknown | 20:20 | 0 nhận xét
Hỏi: Năm 2009 tôi có mua một mảnh đất (chuyển quyền sở hữu vốn góp), do là đất dự án nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo quy định của dự án, sau khi xây nhà xong mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Việc mua bán chỉ có giấy viết tay và có người làm chứng là ông tổ trưởng tổ dân phố chứ không có công chứng hoặc xác nhận của UBND phường. Có giấy ủy quyền của người bán cho tôi được làm các giấy tờ, thủ tục liên quan đến mảnh đất, được công chứng viên chứng thực. Kèm theo phiếu thu nộp tiền cho ban quản lý dự án (bản gốc). Nay tôi ra ban quản lý dự án xin phép làm nhà trên mảnh đất đó thì ban quản lý dự án cho biết mảnh đất tôi mua hiện đang có quyết định của cơ quan thi hành án thành phố không cho xây nhà hoặc chuyển nhượng cho người khác. Xin luật sư vui lòng tư vấn giúp tôi:

Vì là đất dự án nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên việc mua bán chỉ có giấy viết tay, kèm theo giấy ủy quyền như vậy có giá trị pháp lý gì không? Lô đất tôi mua tháng 11/2009 nhưng quyết định của cơ quan thi hành án ký ngày 21/6/2011 như vậy có đúng không?

Tôi có thể nộp đơn khởi kiện người bán ra tòa án dân sự được không? Nếu được thì thủ tục khởi kiện như thế nào? Nộp án phí ở đâu, thủ tục nộp thế nào? Nộp ngay khi khởi kiện hay chờ tòa án thụ lý hồ sơ xong mới nộp?

(binhfcp@... )

Trả lời

Theo quy định tại Điều 106, Luật đất đai 2003 được sửa đổi bổ sung năm 2009 thì người sử dụng đất chỉ được chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

- Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

- Đất không có tranh chấp;

- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

- Trong thời hạn sử dụng đất.

Hơn nữa, theo quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 119 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27-1-2006) thì hợp đồng hoặc giấy tờ khi người sử dụng đất thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn.

Như vậy, việc nhận chuyển nhượng đất của bạn được thực hiện khi chính người chuyển nhượng cũng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là đã vi phạm Điều 106 Luật đất đai. Hơn nữa, hợp đồng chuyển nhượng đất lại không được công chứng hoặc chứng thực theo như quy định dẫn chiếu ở trên là vi phạm về mặt hình thức khi thực hiện giao dịch.

Cần nói thêm, việc bạn có giấy ủy quyền của người bán để bạn làm các giấy tờ, thủ tục liên quan đến mảnh đất, được công chứng viên chứng thực và kèm theo phiếu thu nộp tiền cho ban quản lý dự án (bản gốc) là không có giá trị gì về mặt pháp lý vì giao dịch chuyển nhượng của bạn ngay từ đầu đã không hợp pháp. Chính vì việc mua bán của bạn không được pháp luật công nhận nên quyết định của cơ quan thi hành án ký ngày 21-6-2011 đối với diện tích đó là đúng với quy định của pháp luật.

Từ những dẫn chiếu trên có thể thấy giao dịch chuyển nhượng đất của bạn sẽ bị tòa án tuyên vô hiệu khi các bên có tranh chấp. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Bạn có thể làm đơn kiện kèm theo tài liệu liên quan lên tòa án có thẩm quyền (có thể là tòa án nơi có bất động sản), yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu. Sau khi tòa án nhận đơn thì trong 5 ngày làm việc tòa án sẽ tiến hành thụ lý vụ việc (nếu thuộc thẩm quyền của tòa án) và tòa án sẽ thông báo cho bạn về việc nộp tiền tạm ứng án phí. Tòa án sẽ thụ lý vụ án tính từ thời điểm bạn nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí.

Trân trọng,

Luật sư Lê Thị Hoài Giang
Theo TTO

Sử dụng tường chung như thế nào cho hợp lý?

Unknown | 18:46 | 0 nhận xét
Hỏi: Nhà tôi và nhà bên cạnh có chung bức tường từ trước. Nay tôi chuẩn bị xây nhà nên quyết định sẽ bỏ bức tường cũ cho nhà bên cạnh và sẽ xây bức tường mới để không làm ảnh hưởng đến nhà bên cạnh.

Nhưng khi tôi thuê vẽ thiết kế nhà và đem đi đăng ký xin phép xây dựng thì UBND quận nói là tôi phải lùi bản vẽ vào 15cm theo nguyên tắc thì mới cho tôi xây dựng tường mới (nhà tôi đo chiều ngang tính từ chạm mí bức tường chung phía bên tôi đến ranh giới nhà bên kia là 4m, nay phải lùi vào 15cm thì chỉ còn 3,85m). Tôi xin hỏi như vậy có đúng không?

Cách khác: tôi sẽ thỏa thuận với nhà có bức tường chung là tôi đập tường chung đi và sẽ lấy tim giữa để xây tường mới lên, như thế có được không, và nhà kế bên vẫn sử dụng tường nhà tôi để ở khi nào xây dựng thì xây tường mới riêng, không sử dụng chung tường của tôi nữa, như vậy có được không? Trường hợp này thì xin phép xây dựng ra sao?

Trần Anh Hùng (herotran117@...)

Trả lời

1. Về diện tích đất khi xin phép xây dựng

- Căn cứ Khoản 2 Điều 265 Bộ Luật dân sự (BLDS), người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất, phù hợp với quy hoạch xây dựng, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và không làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất liền kề của người khác.

- Căn cứ Khoản 1 Điều 266 BLDS thì chủ sở hữu bất động sản liền kề chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình.

- Căn cứ Khoản 2 Điều 266 BLDS, trong trường hợp nhà xây riêng biệt nhưng tường sát liền nhau thì chủ sở hữu cũng chỉ được đục tường, đặt kết cấu xây dựng đến giới hạn ngăn cách tường của mình.

- Căn cứ Điều 268 BLDS thì khi đào giếng, đào ao hay xây dựng các công trình dưới mặt đất, chủ sở hữu công trình phải đào, xây cách mốc giới một khoảng cách do pháp luật về xây dựng quy định.

Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên thì về nguyên tắc, ông có quyền xây dựng nhà trên phần đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của mình.

Hiện nay, theo quy chuẩn xây dựng Việt Nam thì chưa quy định một cách cụ thể đối với trường hợp khi xây nhà thì chủ sở hữu bất động sản liền kề phải xây móng cách móng nhà bên cạnh là bao nhiêu.

Tuy nhiên, đối với trường hợp thực tế của ông, do hai căn nhà sử dụng chung một bức tường, nếu khi xây dựng nhà mới ông tự nguyện không sử dụng bức tường chung hữa, đồng nghĩa với việc ông không sử dụng phần đất làm nền móng của bức tường chung, cũng như móng và đà của nó. Thông thường, nền móng của bức tường sẽ lớn hơn bức tường khoảng 20-30cm.

Vì lẽ đó, khi xin giấy phép xây dựng, cơ quan cấp phép xây dựng yêu cầu ông phải làm phần móng cách tường cũ khoảng 15cm là muốn bảo vệ phần móng của tường chung không bị ảnh hưởng. Đây là lý do mà theo suy đoán của chúng tôi là có căn cứ nhất.

2. Về việc thỏa thuận sử dụng tường chung

Căn cứ Điều 266 BLDS, ông có quyền thỏa thuận với chủ sở hữu đang sử dụng chung với ông bức tường về giải pháp mà ông đã nêu trong thư, nếu chủ nhà bên cạnh đồng ý thì hai bên phải lập văn bản ghi nhận thỏa thuận của hai bên, có xác nhận chữ ký của UBND phường làm căn cứ cho cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp phép xây dựng cho ông.

Trân trọng,

Luật sư Phạm Đình Sơn
Theo TTO

Tranh chấp nhà đất chưa có giấy chứng nhận

Unknown | 18:26 | 0 nhận xét
Hỏi: Nhà tôi có ba người gồm tôi, mẹ và chị gái tôi. Lúc còn sống ba tôi có mua căn nhà bằng giấy tay ở Bình Chánh (Tp.HCM) và để hai chị em tôi cùng đứng tên trên giấy mua bán. Nay tôi đã dọn ra ngoài sống cùng chồng con (ở nhà thuê), để nhà đó cho mẹ và chị gái tôi sinh sống.

Giấy tờ mua bán nhà hiện do mẹ và chị gái tôi đang giữ. Giờ tôi về nhà thì mẹ và chị gái tôi không cho vào nhà. Mẹ và chị tôi định bán hoặc thế chấp nhà đó mà không cần sự có mặt hay chữ ký của tôi. Hộ khẩu cả gia đình tôi xưa giờ vẫn ở quận 1 (nhà ở quận 1 vốn cũng là nhà tôi nhưng đã bán để chia đều cho ba tôi và các chú, bác) và chưa chuyển về nhà mới này.

Xin hỏi với tình trạng nhà giấy tờ tay như thế liệu có thể giao dịch, mua bán? Mẹ và chị gái tôi có cách nào tự bán hay cầm cố được nhà mà không cần có mặt tôi hay sự đồng ý của tôi? Nếu mẹ hoặc chị giả mạo chữ ký của tôi để giao dịch thì có được không?

Luat Hoi (hoi_luat@... )

Trả lời

Theo thư của bạn, tôi hiểu rằng nhà của bạn đã được mua bằng giấy tay và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và quyền sở hữu nhà ở.

Theo Khoản 1 điều 91 Luật nhà ở, trong các giao dịch về mua bán, tặng cho, đổi, thừa kế, thế chấp, cho mượn, cho ở nhờ, ủy quyền quản lý nhà ở thì nhà ở phải đủ các điều kiện sau đây: có giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở theo quy định của pháp luật; không có tranh chấp về quyền sở hữu; không bị kê biên để thi hành án hoặc để chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do căn nhà chưa được cấp giấy chứng nhận nên mẹ bạn không thể bán hoặc thế chấp nhà tại bất kỳ tổ chức tín dụng.

Trường hợp mẹ bạn bán nhà bằng giấy tay hoặc thế chấp nhà cho các tổ chức, cá nhân không có đăng ký hoạt động tín dụng theo quy định thì bạn có quyền khởi kiện để yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu theo Điều 128 Bộ luật dân sự do vi phạm điều cấm của pháp luật.

Mọi trường hợp giả mạo giấy tờ hoặc chữ ký là trái pháp luật và có thể yêu cầu tòa án xét xử, tiến hành giám định để tuyên giao dịch vô hiệu.

Đối với tranh chấp về quyền sở hữu nhà, trường hợp các bên không thể tự thỏa thuận và UBND phường xã hòa giải không thành, một trong các bên có thể khởi kiện tại tòa án nhân dân quận nơi có nhà để được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong thư, bạn không nêu cụ thể thời gian mua nhà, song căn cứ theo nguyên tắc của pháp luật về hôn nhân và gia đình, căn nhà này lúc trước tuy do chị em bạn đứng tên trên giấy tay mua bán, song thực chất là mua bằng tài sản của cha bạn thì căn nhà này được xem là tài sản chung của cha mẹ bạn, mỗi người ½ giá trị tài sản.

Khi cha bạn mất đi, ½ căn nhà của cha bạn được xem là di sản thừa kế và sẽ được chia đều cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất là mẹ và hai chị em bạn, mỗi người 1/6 giá trị căn nhà.

Trân trọng.

Luật sư Huỳnh Văn Nông
Theo TTO

Làm sổ khi mua đất chỉ có giấy tay

Unknown | 22:48 | 0 nhận xét
Năm 1998 mẹ tôi có mua một mảnh đất 60m2 nhưng chỉ có biên bản thỏa thuận chuyển quyển sử dụng đất viết tay có chữ ký của 2 vợ chồng bên bán và giấy nhận tiền viết tay không có công chứng mà chỉ có chữ ký của người làm chứng. Từ ngày đó đến nay mảnh đất không xảy ra tranh chấp gì. 

Đến nay mẹ tôi muốn làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên mẹ tôi nhưng vợ chồng bên bán không chịu cấp cho mẹ tôi sổ hộ khẩu, CMND của 2 người, giấy đăng ký kết hôn của 2 người để mẹ tôi làm hợp đồng công chứng không đồng ý ký vào hợp đồng chuyển nhượng công chứng. 

Vậy mẹ tôi phải làm thế nào để có thể làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất và mẹ tôi có thể kiện vợ chồng bên bán không và nếu có khởi kiện thì tòa sẽ xử như thế nào?

Kính gửi: Quý bạn đọc

Theo quy định tại tiểu mục 2.3 mục II. Về thừa kế, tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất Nghị quyết Số: 02/2004/NQ-HĐTP NGHỊ QUYẾT CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại mục 2.3

Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ sau này 15/10/1993:

a) Điều kiện để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Theo qui định tại Điều 131, các điều từ Điều 705 đến Điều 707 và Điều 711 của Bộ luật Dân sự, khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 31 của Luật Đất đai năm 1993 và khoản 1 Điều 106, điểm b khoản 1 Điều 127, khoản 1 Điều 146 của Luật Đất đai năm 2003, thì Toà án chỉ công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi hợp đồng đó có đầy đủ các điều kiện sau đây:

a.1. Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có năng lực hành vi dân sự;

a.2. Người tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn tự nguyện;

a.3. Mục đích và nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không trái pháp luật, đạo đức xã hội;

a.4. Đất chuyển nhượng đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003;

a.5. Bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có đủ điều kiện về nhận chuyển nhượng theo qui định của pháp luật;

a.6. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập thành văn bản có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền.

Theo đó, trường hợp của bạn đã vi phạm điểm a.6 tiểu mục 2.3. do vậy, để xem xét hợp đồng có vô hiệu hay không thì nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng. Nếu bên nhận chuyển nhượng chỉ làm nhà trên một phần đất, thì Toà án công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất có nhà ở và huỷ phần hợp đồng đối với diện tích đất còn lại, buộc bên nhận chuyển nhượng giao trả phần đất đó cho bên chuyển nhượng, trừ trường hợp việc giao trả không bảo đảm mục đích sử dụng cho cả hai bên giao kết hợp đồng, đồng thời buộc các bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch.

Trường hợp còn lại thì hợp đồng của mẹ bạn và người bán sẽ vô hiệu. Khi xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, thì tuỳ từng trường hợp Toà án áp dụng quy định của điều luật tương ứng từ Điều 136 đến Điều 138, từ Điều 140 đến Điều 145 và Điều 146 của Bộ luật Dân sự để xác định thời hạn yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và xử lý hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.
Theo Diaoconline

Đất dôi ra do lấn chiếm sẽ bị xử lý thế nào?

Unknown | 19:44 | 0 nhận xét
Hỏi: Năm 1990, gia đình ông T. được giao sử dụng 120m2 đất thổ cư, diện tích đất này được thể hiện trên bản đồ và sổ địa chính. Năm 1993 gia đình ông xây tường bao quanh diện tích trên. Năm 2005, UBND huyện có chủ trương xét và cấp GCNQSDĐ cho nhân dân trong xã...

Khi đo đạc thực tế diện tích đất thực tế gia đình ông T. là 190m2, do khi ông xây tường đã lấn sang đất công làm sân kho của HTX Nông nghiệp. Xin hỏi, diện tích thừa đó được xử lý như thế nào? Hành vi lấn chiếm đó có bị xử lý gì không?

Phan Minh Tuấn, Biên Hoà, Đồng Nai

Trả lời:

Hành vi lấn chiếm đất đai là một trong những hành vi bị cấm theo quy định luật Đất đai 2003. Hành vi này sẽ bị xử phạt hành chính theo nghị định 106/2009/NĐ-CP ngày 11.11.2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, theo đó hành vi lấn chiếm đất của hộ gia đình ông T. có thể bị phạt tiền từ 500.000 – 100.000.000 đồng và bị buộc khôi phục lại tình trạng của đất như trước khi vi phạm.

Tuy nhiên pháp luật đất đai hiện nay có một số ngoại lệ đối với đất lấn chiếm, tạm chia hai trường hợp như sau:

Trường hợp 1: hành vi lấn chiếm, sử dụng đất Hợp tác xã Nông nghiệp của gia đình ông T. diễn ra trước 15.10.1993:

Theo quy định tại nghị định 84/2007/NĐ-CP thì về nguyên tắc do tại thời điểm bắt đầu sử dụng đất hộ gia đình ông T. đã có hành vi “lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng, đất của tổ chức” thì sẽ không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là giấy chứng nhận) đối với phần diện tích đất do lấn, chiếm. Tuy nhiên, trong trường hợp hộ gia đình ông T. đang sử dụng đất lấn, chiếm (70m2) nhưng phù hợp với quy hoạch tại thời điểm cấp giấy chứng nhận thì sẽ được cấp giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức quy định pháp luật đất đai.

Trường hợp 2: hành vi lấn chiếm, sử dụng đất Hợp tác xã Nông nghiệp của gia đình ông T. diễn ra sau ngày 15.10.1993:

Theo quy định tại nghị định 84/2007/NĐ-CP thì trong trường hợp nếu hộ gia đình ông T. đang sử dụng đất do lấn, chiếm trong khoảng thời gian từ ngày 15.10.1993 đến trước ngày 1.7.2004 thì sẽ không được cấp giấy chứng nhận nhưng được tạm thời sử dụng đất theo hiện trạng cho đến khi có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

LS Nguyễn Văn Hậu
Theo SGTT

Tranh chấp quyền thừa kế ngôi nhà 30 tỷ đồng

Unknown | 09:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Bố mẹ tôi sinh được 6 người con (2 trai và 4 gái). Sau khi ông bà mất đi để lại tài sản là một ngôi nhà trị giá ước tính là 30 tỷ VNĐ. Giấy tờ nhà hiện giờ vẫn để tên ông bà...
Theo như chúng tôi được biết thì ông bà không để lại di chúc. Hiện nay, giữa các anh chị em đã có sự xích mích trong vấn đề chia tài sản đó. Hai anh trai cả muốn chiếm căn nhà để ở và sau này khi chết đi sẽ để lại cho con cái anh ấy nhưng các em thì không đồng ý. Các anh đã dùng những hành động thiếu văn hóa, thiếu tình cảm để đe dọa các em. Sau khi không thành công hai anh đã đưa ra một bản di chúc nói là của ông để lại và được các em đánh giá là làm giả.

Các em yêu cầu là cho xin bản di chúc đó (bản photo cũng được) nhưng các anh nhất mực từ chối và nói là để khi nào sửa nhà xong sẽ đưa cho xem. Nội dung bản di chúc được đưa ra đó là chúng tôi được 1/10 giá trị ngôi nhà đó nhưng với điều kiện ngôi nhà đó được bán. Nhưng chúng tôi biết các anh sẽ không bán ngôi nhà đó vì ngôi nhà đó ở vị trí kinh doanh rất tốt và kinh tế các anh đủ dư dả để không cần phải bán nhà để sống.

Hiện tại, ba em gái út quyết đưa vụ việc này ra tòa nhờ được xét xử để lấy lại công bằng. Tôi mong luật sư có thể giải đáp giúp tôi những thắc mắc sau:

- Khi các anh chúng tôi sửa nhà chúng tôi phải làm những gì để ngăn việc này khi ngôi nhà đang xảy ra tranh chấp?

- Các thủ tục để gửi đơn kiện và phải gửi đơn kiện đến những các cơ quan chức năng nào?

- Mức phí chúng tôi phải trả để kiện?

- Khả năng thắng kiện của chị em tôi có cao không?

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật, khi bố mẹ bạn mất mà không để lại di chúc, phần di sản để lại sẽ được chia theo pháp luật khi có yêu cầu (hoặc khi các đồng thừa kế không thỏa thuận được sự phân chia di sản thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết).

Theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự: Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

Do vậy, trường hợp của bạn vừa nêu, thì 6 anh em của bạn sẽ là những người được hưởng di sản thừa kế đó và sẽ được hưởng phần bằng nhau.

Vì vậy, việc tranh chấp di sản thừa kế của bạn có thể nộp tại tòa án nhân dân huyện (nếu các anh chị em không có người nào ở nước ngoài) để được thụ lí giải quyết. Các thủ tục để gửi đơn kiện:

+ Đơn khởi kiện (theo mẫu)

+ Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: giấy khai sinh,chứng minh nhân dân, giấy chứng nhận kết hôn,sổ hộ khẩu để xác định diện và hàng thừa kế.

+ Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế

+ Bản kê khai các di sản

+ Các giấy tờ,tài liệu chứng minh sở hữu của người để lại di sản và nguồn gốc di sản của người để lại di sản.

+ Các giấy tờ khác nếu có liên quan.

c.Mức án phí mà bạn phải nộp: đây là vụ án dân sự có giá ngạch, việc đóng tạm ứng án phí dựa trên giá trị tài sản tranh chấp. Bạn có thể tham khảo thêm tại quy định của pháp lệnh về phí, án phí của tòa án.

d. Khi tòa án đã thụ lí đơn kiện của bạn thì bạn có thể yêu cầu tòa án áp dụng các biện pháp khắc phục tạm thời theo quy định tại Điều 110 Bộ luật tố tụng dân sự:

Điều 110 Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp:

Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó.

Bạn cũng cần lưu ý là theo Ðiều 645 Bộ luật dân sự về Thời hiệu khởi kiện về thừa kế thì: Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Vì vậy, bạn cũng cần xem xét về thời gian khởi kiện vẫn nằm trong thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản.
VP luật sư Giải Phóng
Theo Vietnamnet

Tranh chấp lối đi chung

Unknown | 09:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Trước đây nhà tôi có 1 cái giếng. Những hộ dân ngoài bưng có vào xin nước về sử dụng nên ông bà nhà tôi có mở một con đường nhỏ cho họ đi lại gánh nước.
Nhưng từ năm 2008 người dân không còn vào gánh nước nên nhà tôi đã làm sân, mái che khu vực đó cho đến nay.

Nay chủ đất trước nhà tôi bán đất, phá rào và chia thành nhiều lô, lô ngoài thì giáp đường nhựa còn lô trong thì giáp nhà tôi. Nên họ kêu nhà tôi phải phá mái che, am thờ tổ tiên và sân để những lô trong của đất họ có đường đi lại và ra sổ đỏ.

Tôi thấy thật vô lý vì đất của họ mua bán thì họ phải mở đường cho người ta đi chứ nhà tôi đâu có đụng gì đâu mà họ yêu cầu như vậy. Nhờ luật sư tư vấn giúp gia đình tôi. Chân thành cảm ơn!

(baoxuyen@...)

Trả lời

Căn cứ Điều 17 Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25-5-2007, UBND cấp tỉnh là nơi có thẩm quyền quy định chi tiết về diện tích tối thiểu của thửa đất được phép tách thửa.

Thông thường, UBND cấp tỉnh sẽ quy định những điều kiện khác kèm theo điều kiện về diện tích tối thiểu, như khi tách thửa phải đảm bảo được hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch và kết nối đồng bộ với hạ tầng kỹ thuật hiện hữu.

Điều này có thể hiểu khi tách thửa đất, người sử dụng đất ngoài việc tuân thủ điều kiện về diện tích tối thiểu được tách thửa còn phải đảm bảo thửa đất mới có đường đi, đường cấp thoát nước… kết nối với đường đi và hệ thống cấp thoát nước hiện hữu.

Nếu không đảm bảo những điều kiện như trên thì không đủ điều kiện để được tách thửa.

Theo thư trình bày, người sử dụng đất phía ngoài đã tách thửa đất của mình thành nhiều thửa và yêu cầu ông/bà phải dành một phần đất mà mình đang sử dụng để làm đường đi cho thửa đất phía trong là không hợp lý và không phù hợp với nguyên tắc khi tách thửa.

Bởi lẽ, căn cứ khoản 3 Điều 275 Bộ Luật dân sự, trong trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong.

Căn cứ theo quyết định nêu trên thì người tách thửa có nghĩa vụ phải tạo lập lối đi bằng đất thuộc quyền sử dụng của mình cho người sử dụng đất phía trong, chứ không phải buộc người khác không liên quan đến việc tách thửa phải dành phần đất của mình để tạo lập lối đi cho người sử dụng đất phía trong.

Ông/bà có quyền căn cứ vào quy định nêu trên để từ chối yêu cầu của người sử dụng đất phía ngoài.

Thân ái!
Luật sư Phạm Đình Sơn
Theo TTO

Có quyền giữ lại mảnh đất đang ở không?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Gia đình tôi có mảnh đất rộng 420m2 của ông bà bác để lại, ông bị giặc Pháp bắt đi mất tích, ông bà có người con gái là A. Năm 1984 bà mất, chị A đi công tác xa không về.
Tại thời điểm đó hợp tác xã có chia đất cho dân nên gia đình tôi được chia 220m2, chị A đi công tác nên đã nhượng lại mảnh đất 200m2 của chị cho gia đình tôi bằng miệng nên hợp tác xã đã chia cả 420m2 đó cho gia đình tôi đứng tên và nộp thuế đến nay là 27 năm, gia đình tôi đã làm nhà cửa được 25 năm.

Tới bây giờ chị A về nghỉ hưu làm nhà ở tại mảnh đất đó và viết đơn lên UBND xã đòi gia đình tôi phải trả lại toàn bộ mảnh đất 420m2, giải phóng mặt bằng trả chị. Vậy xin hỏi quý luật sư, trong trường hợp này gia đình tôi có quyền giữ lại mảnh đất đó không? (Nguyen Thi Luu)

Trả lời

Bạn không nêu rõ “nhượng” lại trong trường hợp này là chị A chuyển nhượng hay cho mượn hoặc cho/nhường lại quyền sử dụng đất cho gia đình bạn. Tuy nhiên, với những sự kiện được trình bày, có thể hiểu đây là việc chị A nhường lại cho gia đình bạn phần quyền sử dụng đất mà hợp tác xã chia cho chị.

Trong trường hợp này, căn cứ theo quy định tại điều 4 nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/10/2004 về thi hành Luật đất đai, Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất và không xem xét giải quyết khiếu nại về việc đòi lại đất mà Nhà nước đã giao cho người khác sử dụng theo các chính sách ruộng đất trước ngày 15/10/1993.

Đồng thời, theo quy định tại khoản 2 điều 109 nghị định 181/2004/NĐ-CP, nếu đất có nguồn gốc do xã viên góp vào hợp tác xã thì quyền sử dụng đất là tài sản của hợp tác xã; khi bị giải thể/phá sản, hợp tác xã có quyền xử lý theo điều lệ của hợp tác xã hoặc nghị quyết của đại hội xã viên.

Theo đó, việc sử dụng đất được hợp tác xã phân chia của gia đình bạn là phù hợp. Hơn nữa, việc sử dụng đất ổn định, lâu dài của gia đình bạn cũng là một yếu tố quan trọng được xem xét và là một bất lợi đối với chị A.

Tuy nhiên, tranh chấp đất đai để bảo vệ quyền lợi của mình là một trong những quyền chung của người sử dụng đất. Chị A có quyền thực hiện quyền này. Vả lại, cần lưu ý việc nhượng lại đất của chị A cho gia đình bạn chỉ là lời nói, không phải bằng văn bản, nên nếu chị A có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất của mình và chứng minh được việc chia đất của hợp tác xã là không phù hợp thì có thể yêu cầu tranh chấp của chị sẽ được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận.

Hơn nữa, nếu là đất mà gia đình bạn đang sử dụng thì tại sao chị A lại có thể đến xây nhà để ở và gia đình bạn đã được cấp giấy chứng nhận đối với quyền sử dụng đất chưa. Đây cũng là câu hỏi được đặt ra.

Tôi phân tích những vấn đề trên để bạn có thể hình dung về mặt pháp lý, quyền sử dụng đất của gia đình bạn có thể được bảo vệ, nhưng khi tranh chấp xảy ra, cả hai bên không chỉ tốn thời gian và chi phí mà tình nghĩa bà con, họ hàng cũng không còn.

Đây không phải lời khuyên, nhưng bạn cần ghi nhận một phần diện tích đất gia đình mình đang có là đất có nguồn gốc của cha mẹ của chị A, và sau đó là do chị A nhường lại. Về tình, chị A cũng xứng đáng được hưởng một phần trong đó. Vì vậy, nếu thỏa thuận được để tranh chấp không xảy ra sẽ là điều tốt đẹp.

Chúc bạn có chọn lựa đúng đắn cho mình.
Tiến sĩ luật Đặng Anh Quân
Theo TTO

Cách giải quyết tranh chấp lối đi chung

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét
Hỏi: Nhà tôi ở cuối con hẻm cụt có lộ giới 8m, nhưng bị nhà đối diện lấn chiếm và che chắn làm sân riêng. Do tình làng nghĩa xóm, nhà tôi không có ý kiến và để cho nhà đối diện sử dụng làm sân và xây tường làm cửa để bảo vệ tài sản.
 
Hiện nhà đối diện đang tiến hành xây dựng nhà kiên cố và xây dựng trên cả phần hẻm lấn chiếm này. Tôi đã viết đơn kiến nghị lên UBND phường yêu cầu nhà đối diện trả con hẻm về hiện trạng cũ để hai nhà cùng sử dụng. Sau buổi hòa giải tôi mới được biết phần đất hẻm này đã được cấp giấy chủ quyền năm 2003, không có biên bản thống nhất giữa các hộ xung quanh và hiện nay đã được cấp giấy phép xây dựng.

Tôi có xem lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà tôi thì trên bản vẽ phần đất hẻm nằm bên hộ nhà đối diện.

Xin hỏi tôi có thể đề nghị chính quyền can thiệp đòi trả lại hiện trạng hẻm như ban đầu được không? Pham Ngoc Khanh Tu (socnaucon2000@... )

Trả lời

Theo quy định tại Khoản 1 điều 265 Bộ luật dân sự, ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận của các chủ sở hữu hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.

Theo thư của bạn, việc tranh chấp đã được đưa ra UBND phường để tiến hành hòa giải nhưng không thành. Như vậy, theo Điều 136 Luật đất đai, bạn có thể khởi kiện tại tòa án nhân dân quận nơi có đất để được giải quyết.

Tòa án sẽ căn cứ quá trình sử dụng đất cũng như hồ sơ địa chính tại vị trí đất tranh chấp và các quy định pháp luật có liên quan để giải quyết tranh chấp.

Tuy nhiên, theo thông tin mà bạn cung cấp thì hiện nay cả sổ đỏ nhà đối diện và sổ đỏ của nhà bạn đều thể hiện phần diện tích đất đang tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của nhà đối diện. Do đó, khả năng yêu cầu khởi kiện của bạn được chấp nhận là không cao.
Luật sư Huỳnh Văn Nông
Theo TTO

Có quyền giữ lại mảnh đất đang ở không?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Gia đình tôi có mảnh đất rộng 420m2 của ông bà bác để lại, ông bị giặc Pháp bắt đi mất tích, ông bà có người con gái là A. Năm 1984 bà mất, chị A đi công tác xa không về.
Tại thời điểm đó hợp tác xã có chia đất cho dân nên gia đình tôi được chia 220m2, chị A đi công tác nên đã nhượng lại mảnh đất 200m2 của chị cho gia đình tôi bằng miệng nên hợp tác xã đã chia cả 420m2 đó cho gia đình tôi đứng tên và nộp thuế đến nay là 27 năm, gia đình tôi đã làm nhà cửa được 25 năm.

Tới bây giờ chị A về nghỉ hưu làm nhà ở tại mảnh đất đó và viết đơn lên UBND xã đòi gia đình tôi phải trả lại toàn bộ mảnh đất 420m2, giải phóng mặt bằng trả chị. Vậy xin hỏi quý luật sư, trong trường hợp này gia đình tôi có quyền giữ lại mảnh đất đó không? (Nguyen Thi Luu)

Trả lời

Bạn không nêu rõ “nhượng” lại trong trường hợp này là chị A chuyển nhượng hay cho mượn hoặc cho/nhường lại quyền sử dụng đất cho gia đình bạn. Tuy nhiên, với những sự kiện được trình bày, có thể hiểu đây là việc chị A nhường lại cho gia đình bạn phần quyền sử dụng đất mà hợp tác xã chia cho chị.

Trong trường hợp này, căn cứ theo quy định tại điều 4 nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/10/2004 về thi hành Luật đất đai, Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất và không xem xét giải quyết khiếu nại về việc đòi lại đất mà Nhà nước đã giao cho người khác sử dụng theo các chính sách ruộng đất trước ngày 15/10/1993.

Đồng thời, theo quy định tại khoản 2 điều 109 nghị định 181/2004/NĐ-CP, nếu đất có nguồn gốc do xã viên góp vào hợp tác xã thì quyền sử dụng đất là tài sản của hợp tác xã; khi bị giải thể/phá sản, hợp tác xã có quyền xử lý theo điều lệ của hợp tác xã hoặc nghị quyết của đại hội xã viên.

Theo đó, việc sử dụng đất được hợp tác xã phân chia của gia đình bạn là phù hợp. Hơn nữa, việc sử dụng đất ổn định, lâu dài của gia đình bạn cũng là một yếu tố quan trọng được xem xét và là một bất lợi đối với chị A.

Tuy nhiên, tranh chấp đất đai để bảo vệ quyền lợi của mình là một trong những quyền chung của người sử dụng đất. Chị A có quyền thực hiện quyền này. Vả lại, cần lưu ý việc nhượng lại đất của chị A cho gia đình bạn chỉ là lời nói, không phải bằng văn bản, nên nếu chị A có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất của mình và chứng minh được việc chia đất của hợp tác xã là không phù hợp thì có thể yêu cầu tranh chấp của chị sẽ được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận.

Hơn nữa, nếu là đất mà gia đình bạn đang sử dụng thì tại sao chị A lại có thể đến xây nhà để ở và gia đình bạn đã được cấp giấy chứng nhận đối với quyền sử dụng đất chưa. Đây cũng là câu hỏi được đặt ra.

Tôi phân tích những vấn đề trên để bạn có thể hình dung về mặt pháp lý, quyền sử dụng đất của gia đình bạn có thể được bảo vệ, nhưng khi tranh chấp xảy ra, cả hai bên không chỉ tốn thời gian và chi phí mà tình nghĩa bà con, họ hàng cũng không còn.

Đây không phải lời khuyên, nhưng bạn cần ghi nhận một phần diện tích đất gia đình mình đang có là đất có nguồn gốc của cha mẹ của chị A, và sau đó là do chị A nhường lại. Về tình, chị A cũng xứng đáng được hưởng một phần trong đó. Vì vậy, nếu thỏa thuận được để tranh chấp không xảy ra sẽ là điều tốt đẹp.

Chúc bạn có chọn lựa đúng đắn cho mình.
Tiến sĩ luật Đặng Anh Quân
Theo TTO

Tôi có thể tự chia lại ranh giới đất không?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Cuối tháng 10/2010, tôi có mua một miếng đất diện tích 69,5m2 tại Q.Bình Tân (Tp.HCM). Trên bản vẽ tổng thể quy hoạch, các mảnh đất phân lô không vuông vức, có hình tứ giác với một cạnh dài hơn cạnh kia 10cm.
Theo đó, căn nhà xây kiên cố bên cạnh khu đất của tôi đã lấn sang phần đất của tôi 20cm, nhưng phần đuôi nhà họ chừa lại 50cm (tức tôi chịu thiệt phía trước nhà 20cm nhưng được bù đắp lại cho phần phía sau là 50cm).

Khi xem xét lại toàn bộ căn nhà kiên cố này, họ cũng chỉ xây chiều ngang mặt trước và mặt sau 4m. Các nhà liền kề căn nhà này cũng đều xây với khuynh hướng phần đuôi theo hướng xa lô đất của tôi nhưng phần mặt tiền nghiêng về phía lô đất của tôi. Bên cạnh lô đất của tôi còn lại một lô đất khác chưa xây dựng cũng với chiều ngang 4m.

Tôi dự tính:

- Phương án 1: Tôi và chủ nhà kế tôi sẽ thương lượng tại địa phương sẽ không tranh chấp phần 20cm phía trước với họ, ngược lại họ cũng không tranh chấp phần 50cm phía sau (khi đó mặt trước miếng đất của tôi sẽ là 3,8m và mặt sau là 4,5m). Với phương án này, tôi có xin quận Bình Tân đo vẽ, xác định lại mảnh đất trên sổ đỏ của tôi được không?

- Phương án 2: Tôi sẽ làm như những người xây dựng trước đó, tức căn cứ vào vách nhà của người kế bên và tiếp tục xây dựng nhà theo đúng chiều ngang 4m. Nếu như vậy tôi sẽ gặp trở ngại gì? Ricky Nguyen (eduman911@...)

Trả lời

Theo quy định tại khoản 1 điều 265 Bộ luật dân sự, ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận của các chủ sở hữu hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ngoài ra, theo khoản 4 điều 46 Luật đất đai, người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thể được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thay đổi đường ranh giới thửa đất.

Như vậy, căn cứ các quy định nói trên, ông và chủ nhà bên cạnh hoàn toàn có thể tự thỏa thuận về ranh đất giữa hai thửa đất theo phương án 1 ông đã đề cập trong thư (với điều kiện việc thỏa thuận này không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba bất kỳ).

Để phục vụ cho việc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, việc thỏa thuận cần được lập thành văn bản và có xác nhận của chính quyền địa phương.

Sau khi thỏa thuận giữa ông và hộ liền kề được xác lập như trên, ông và hộ liền kề sẽ liên hệ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận để làm thủ tục điều chỉnh ranh giới đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trường hợp ông thực hiện theo phương án 2, thì diện tích nhà sau khi xây dựng sẽ không theo đúng ranh giới đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tức không đúng so với giấy phép xây dựng (vì giấy phép xây dựng được cấp căn cứ theo diện tích và ranh đất thể hiện trong sổ đỏ).

Trong trường hợp này, ông có thể gặp trở ngại trong việc hợp thức hóa căn nhà để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà.
Luật sư Huỳnh Văn Nông
Theo TTO

Làm thế nào để lấy lại chủ quyền nhà?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Mẹ tôi đã mất, cha tôi 80 tuổi, bị bệnh hai năm nay không còn biết gì. Ba mẹ tôi có căn nhà ở đường Nguyễn Tri Phương, Q.5, Tp.HCM.
Nhà chúng tôi có tám anh em (ba trai, năm gái). Năm năm trước, khi làm giấy tờ sở hữu nhà đất, anh em tôi tin tưởng giao cho người anh cả đứng tên chủ quyền.

Chúng tôi nghĩ có sang nhượng gì thì anh cả cũng không làm được nếu không có sự đồng ý của các thành viên trong gia đình. Nhưng trong một năm nay, anh tôi có ý để thừa kế căn nhà lại cho con và nói chúng tôi không có quyền gì trong căn nhà đó cả. Chúng tôi rất buồn và thất vọng vì đã lầm khi đặt lòng tin vào người anh cả. Xin hỏi anh em chúng tôi phải làm cách nào để nhà cha mẹ không bị anh cả độc chiếm và nếu có sang bán thì cũng phải công bằng chia đều cho tám anh em? T.V.L.

Trả lời

Vì thư của bạn không nêu rõ một số chi tiết nên tôi trả lời chung như sau:

1. Trường hợp có chứng cứ hợp pháp chứng minh được căn nhà trên là tài sản chung của cha mẹ bạn và ông bà không có sự thỏa thuận nào về việc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, sau khi mẹ của bạn chết, anh cả đứng tên trên giấy chủ quyền này là với tư cách đại diện cho các đồng thừa kế được thừa kế phần căn nhà này từ mẹ của bạn thì việc anh cả có ý độc chiếm căn nhà trên là trái quy định pháp luật về nhà ở, đất ở, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế.

Nếu mẹ bạn không để lại di chúc và các bên không thỏa thuận được với nhau thì cha và anh chị em bạn (gọi tắt là gia đình bạn) có quyền yêu cầu anh cả phân chia di sản của mẹ bạn. Về nguyên tắc chung, nửa căn nhà trên thuộc quyền sở hữu của cha bạn; nửa còn lại thuộc sở hữu chung của mẹ và tám anh chị em của bạn, mỗi người được một phần bằng nhau. Nếu anh cả không đồng ý phân chia căn nhà trên thì gia đình bạn có quyền khởi kiện ra tòa án có thẩm quyền để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

2. Trường hợp không có chứng cứ hợp pháp chứng minh được căn nhà trên là tài sản chung của cha mẹ bạn, cũng không chứng minh được anh cả của bạn chỉ là người đại diện đứng tên trên giấy chủ quyền thì coi như anh cả của bạn là chủ sở hữu căn nhà trên. Khi đó, anh cả có quyền sử dụng, định đoạt, để lại thừa kế căn nhà trên theo ý chí của mình, miễn là không gây thiệt hại, không làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (điều 164, 165, 631 Bộ luật dân sự năm 2005).
Luật sư Nguyễn Bảo Trâm
Theo TTO

Có thể gửi đơn kiện đến cấp nào của tòa?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Năm 1977, bà ngoại cho mẹ tôi 180m2, dì tôi 100m2 đất không làm di chúc. Trong sổ địa chính của UBND xã, mẹ tôi là người đứng tên sở hữu mảnh đất 180m2 này và kể từ khi Nhà nước có Luật Đất đai năm 1993 cho đến nay.
Bà ngoại tôi mất, nay dì tôi tự ý xây chiếm 40m2 trên thửa đất 180m2 bà cho mẹ tôi, như vậy có đúng không? Cơ quan nào xử lý tranh chấp này? - Trần Nguyễn (Thụy Phương- Từ Liêm)

Trả lời

Theo thông tin mà bạn cung cấp thì phần đất 180 m2 mà mẹ của bạn đang sử dụng được bà ngoại của bạn cho vào năm 1977. Diện tích đất này đã được ghi nhận trong Hồ sơ địa chính xã, đồng thời mẹ của bạn đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế đối với phần đất trên đối với Nhà nước. Căn cứ vào điểm b, khoản 1, Điều 50 Luật Đất đai 2003 thì gia đình bạn có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất vì có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính.

Mặt khác, tại  điểm b, khoản 1, Điều 136 Luật đất đai 2003 về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai quy định: “Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết”.

Vì vậy, tranh chấp (nếu có) giữa mẹ của bạn và dì của bạn sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tuy nhiên, đây sẽ không phải tranh chấp về thừa kế nên cũng không liên quan đến thời hiệu khởi kiện quan hệ thừa kế 10 năm như bạn nêu.

Gia đình bạn có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền để “đòi tài sản” đối với phần diện tích 40m2 do dì của bạn đang chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.
Luật sư Trần Anh Tú
Theo KTĐT

Môi giới BĐS bắc cầu: Người trung gian bị khách hàng ép ngược

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét
Bà Nguyễn Thị Hồng Hà không thể ngờ rằng, những trục trặc trong vấn đề thủ tục trung gian đang trở thành cái cớ để bà bị chính khách hàng ép ngược.
Một số hồ sơ liên quan đến vụ việc trên

Món nợ từ trên trời rơi xuống

Từ tháng 10/2009, bà Hà ký hợp đồng đặt cọc mua 1 sàn tầng 19 block A Tòa nhà Hồng Kông Tower, số 243 La Thành, Ba Đình, Hà Nội, do CTCP Đô thị Kang Long làm chủ đầu tư. Tuy nhiên, hợp đồng đặt cọc không được ký trực tiếp với Kang Long, mà thông qua CTCP Thương mại địa ốc Thế giới Lê, cổ đông sáng lập và đồng thời là đơn vị ký hợp đồng phân phối một số tầng của dự án Hồng Kông Tower (trong đó có tầng 19).

Giữa tháng 11/2009, thông qua người quen biết, bà Hà bán lại quyền mua 2 căn hộ thuộc tầng 19 mà mình đã đặt cọc cho bà Lại Thị Mai Phương, trú tại quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội. Giá trị đặt cọc là 1 tỷ đồng cho 2 căn với cam kết: “đảm bảo Phiếu thu và hợp đồng đúng theo quy định của CTCP Đầu tư đô thị Kang Long” và “sau 15 ngày sau nộp tiếp 60% thu theo tiến độ”.

Và, phát sinh câu chuyện bắt đầu từ đây.

Bản thân người bán không mua trực tiếp căn hộ từ Kang Long, mà thông qua bên trung gian là Công ty Cổ phần Thương mại Địa ốc Thế giới Lê (có địa chỉ tại D2-12 Lô R19-1, khu phố Mỹ Toàn 3, phường Tân Phong, quận 7, TP. Hồ Chí Minh), nên dù bà Hà đã chuyển tiền đặt cọc của khách hàng lại cho người bán, nhưng cũng chỉ nhận được giấy xác nhận nộp cọc từ Công ty Thế giới Lê đối với khách hàng của bà Hà là bà Phương, chứ không phải từ Kang Long như cam kết. Để có được hợp đồng trực tiếp của Kang Long, khách hàng phải nộp đủ 60% theo tiến độ nộp.

Phía khách hàng, cũng chưa hiểu vì lý do gì, không nộp đủ 60% giá trị hợp đồng mua 2 căn hộ trong thời hạn 15 ngày như cam kết. Và đây là lý do khiến đã hơn 2 năm kể từ khi phát sinh sự việc, bà Hà – người cho rằng mình đã hết trách nhiệm với khách hàng đang phải đối mặt với việc bị đòi tiền đặt cọc 1 tỷ đồng kèm lãi suất của khách hàng. Lý do bà Phương đưa ra là: bà Hà đã không chuyển giấy tờ xác nhận nào từ chủ đầu tư là Kang Long cho bà Phương liên quan đến số tiền đặt cọc 1 tỷ đồng nói trên như cam kết. Giấy biên nhận tiền đặt cọc số tiền 1 tỷ đồng mua 2 căn hộ tầng 19 được xác nhận bởi Công ty Thế giới Lê bị bà Phương từ chối nhận với lý do “không biết CTCP Thương mại địa ốc Thế giới Lê là đơn vị nào”. Thêm vào đó, 1 điều khiến bà Phương e ngại chính là việc dự án Hồng Kông Tower đến thời điểm này vẫn dậm chân tại chỗ.

Tranh chấp chưa có hồi kết

Bà Phương, với lý do chưa nhận được giấy tờ như cam kết từ chính chủ đầu tư, sau nhiều lần tiếp cận đòi số tiền đặt cọc từ bà Phương không thành đã có đơn tố cáo bà Hà yêu cầu đòi lại 1 tỷ đồng tiền đặt cọc và lãi. Trong một đề nghị gửi bà Hà, bà Phương cũng cho biết: “trong trường hợp chị không hoàn trả tiền đặt cọc trong thời gian nêu trên và không có bất kỳ phản hồi nào, tôi sẽ đưa sự việc ra giải quyết tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật”.
Ngày 29/6, trao đổi với PV Dân trí, bà Hà cho biết, bản thân bà đã hết sức mệt mỏi với sự việc này. Bà không thể ngờ được, việc đứng ra làm trung gian trong vụ việc này lại khiến mình trở rơi vào hoàn cảnh này. “Tôi không hề giữ số tiền đặt cọc 1 tỷ đồng đó, thì lấy đâu ra để trả bà Phương”, bà Hà cho biết.
 
Bà cho biết thêm, thời gian vừa qua, bà đã phải chịu rất nhiều áp lực, khi bà Phương không chỉ gửi đơn tố cáo đến một số cơ quan chức năng; đồng thời có một số người không rõ hành tung đến tận nhà bà uy hiếp, dù theo bà “mình đã làm hết trách nhiệm của một người bán hàng trung gian”.

Theo bà Hà, vì khách hàng không nộp đủ tiền theo tiến độ, nên không thể ký hợp đồng trực tiếp với Kang Long. Dẫn chứng điều này, bà Hà đưa ra hợp đồng của một người mua khác, sau khi đặt cọc đã nộp đủ 60% giá trị hợp đồng căn hộ, nên đã được chuyển hợp đồng của Chủ đầu tư Kang Long ký trực tiếp với khách hàng. Theo bà Hà, nếu bà Phương tuân thủ quy định nộp cọc đủ 60% theo tiến độ, thì tôi đã hoàn chỉnh về mặt giấy tờ, và không có câu chuyện phát sinh như hiện tại. Vì vậy, bà Hà cho là mình là đã làm hết trách nhiệm, phần thiếu sót có nguyên nhân từ việc khách hàng không thực hiện đúng cam kết nộp tiền như yêu cầu của chủ đầu tư.

Bà Hà cho biết: “Nếu bà Phương thấy không thỏa đáng thì đề nghị làm đơn lên tòa án dân sự để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật”.
Theo Dantri

Có khởi kiện ra tòa nếu không hòa giải được tranh chấp không?

Unknown | 02:02 | 0 nhận xét

Hỏi: Tháng 9/2009, tôi mua 110m2 đất trên thửa đất thổ cư rộng 720m2 đã có sổ đỏ của gia đình bà B.. Hợp đồng mua bán đã được UBND xã chứng thực.
Trong quá trình làm thủ tục tách sổ đỏ sang tên tôi thì có đơn của ông N. - hàng xóm của bà B., đề nghị tạm dừng giao dịch thửa đất nêu trên với lý do đang có tranh chấp về mốc giới (tranh chấp bức tường rào nằm trên ranh giới phần đất còn lại của bà B. giáp với đất nhà ông N.. Đất nhà ông N. chưa có sổ đỏ, đất nhà tôi không giáp đất nhà ông N.).

UBND huyện đã dừng tách sổ cho tôi để xác minh lại. Sau đó phòng tài nguyên - môi trường huyện, thanh tra huyện và UBND xã đã xác minh diện tích, ranh giới, mốc giới đất nhà bà B. hoàn toàn đúng với sổ đỏ đã cấp. UBND huyện đã chỉ đạo UBND xã tổ chức hòa giải. Buổi hòa giải không thành công do ông N. không chịu ký vào biên bản.

Ngày 3/4/2010, văn phòng đăng ký đất và nhà của huyện gửi thông báo cho các bên liên quan trong đó có đoạn: “Đề nghị ông N. liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết. Nếu sau 30 ngày kể từ ngày ban hành thông báo này, ông N. chưa liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết hoặc không có thông tin gì về thửa đất trên, văn phòng đăng ký đất và nhà sẽ tiến hành làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho các ông, bà có tên theo đúng quy định”.

Trong tháng 4/2010, ông N. tiếp tục gửi đơn thứ 2 (với nội dung tương tự đơn thứ nhất lên UBND huyện). Cho đến nay tôi vẫn chưa làm được thủ tục chuyển quyền sử dụng đất (lý do “được trả lời không chính thức” là chưa hòa giải xong và ông N. không chịu rút hai lá đơn về).

Bây giờ tôi phải làm sao? Mong chuyên mục và các luật sư tư vấn giúp đỡ. Xin cảm ơn. Anh Tran (anhtran101b@... )

Trả lời

Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, khi thực hiện quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, người sử dụng đất phải có đủ các điều kiện:

- Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Đất không có tranh chấp;
- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để thi hành án và phải trong thời hạn sử dụng đất.

Vì vậy, việc văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tạm ngưng thủ tục chuyển quyền một phần quyền sử dụng đất mà bạn đã nhận chuyển nhượng của bà B. cho đến thời điểm giải quyết xong tranh chấp đất giữa bà B. và ông N. là đúng quy định.

Trong trường hợp này, do đất của bà B. đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên bà B. có quyền khởi kiện ông N. đến tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất để được giải quyết tranh chấp nếu tranh chấp hiện tại không thể hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất được.

Lưu ý:

Do việc hòa giải về tranh chấp đất đai là một điều kiện bắt buộc trước khi khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẩm quyền, nên mặc dù tranh chấp về đất đai nêu trên đã được hòa giải tại UBND cấp xã theo luật định, tuy nhiên do phiên hòa giải trước đó đã được thực hiện từ năm 2010, nên trước khi khởi kiện đến TAND có thẩm quyền vào thời điểm hiện tại, bà B. nên gửi đơn yêu cầu UBND cấp xã nơi có đất tổ chức lại một buổi hòa giải để giải quyết tranh chấp đất đai theo luật định.
Luật sư Nguyễn Văn Hậu
Theo TTO

Bỏ trần phí chung cư có thể thổi bùng tranh chấp

Unknown | 19:34 | 0 nhận xét

Quy định giá trần dịch vụ nhà chung cư bị hiểu sai, lợi dụng, khiến tranh chấp giữa người dân và ban quản lý chung cư tại Hà Nội thời gian qua bùng nổ, khó giải quyết. Tuy nhiên, việc bỏ mức trần phí quản lý chung cư có thể lại thổi bùng các vụ tranh chấp.

Trần phí chung cư bị lợi dụng

Ngày 29/9/2011, Hà Nội chính thức ban hành Đề án giá dịch vụ nhà chung cư và ban hành giá trần giá dịch vụ nhà chung cư trên địa bàn Thành phố. Theo đề án này, mức trần phí quản lý chung cư trên địa bàn Thành phố là 4.000 đồng/m2, áp dụng với những nhà chung cư có thang máy; mức phí thấp nhất là 2.400 đồng/m2, áp dụng với chung cư không có thang máy.

Việc quy định giá trần dịch vụ chung cư được kỳ vọng sẽ chấm dứt tranh chấp về mức phí quản lý giữa người dân và các chủ dự án chung cư. Bởi lẽ, các quy định rất rõ ràng trong Đề án sẽ là cơ sở để giải quyết những tranh chấp vốn căng thẳng và có xu hướng ngày một lan rộng, từ chung cư cao cấp đến chung cư thấp cấp.

Tuy nhiên, ngay cả khi đã có những quy định về phí cụ thể, thì những tranh chấp giữa chủ đầu tư và người dân vẫn tiếp diễn. Thậm chí, quy định về trần phí quản lý lại trở thành lý do để thổi bùng tranh chấp tại một số dự án, khiến việc giải quyết tranh chấp càng khó khăn hơn.
Chẳng hạn, tại Dự án Keangnam trên đường Phạm Hùng, từ khi Hà Nội ban hành Đề án giá dịch vụ nhà chung cư, quy định mức trần phí quản lý là 4.000 đồng/m2, tranh chấp giữa chủ dự án và người dân bị đẩy lên đỉnh điểm. Bởi người dân chỉ chấp nhận mức trần phí quản lý của UBND Thành phố, trong khi chủ dự án kiên quyết áp mức phí quản lý trên 17.000 đồng/m2. Từ đó, những căng thẳng giữa người dân và chủ đầu tư liên tục “leo thang”. Đỉnh điểm của mâu thuẫn, chủ đầu tư đã cắt thang máy, cắt điện nước với nhiều hộ dân.

Bỏ trần phí: Nguy hiểm!

Tại văn bản kiến nghị lên Bộ Xây dựng bỏ mức trần phí quản lý chung cư mới đây, UBND TP. Hà Nội thừa nhận thực tế, việc áp dụng mức trần đã bị nhiều bên cố tình hiểu sai nội dung. Từ đó, trên địa bàn xảy ra nhiều vụ tranh chấp, gây khó khăn cho cơ quan quản lý trong việc giải quyết. Mặt khác, UBND TP. Hà Nội cũng thừa nhận, các dịch vụ chung cư rất đa dạng về tần suất, chất lượng và phụ thuộc vào từng dự án, nên không thể xây dựng giá tất cả các loại dịch vụ.

Nếu kiến nghị bỏ trần phí quản lý chung cư được Bộ Xây dựng chấp chuận, quy định này có thể sẽ hết hiệu lực từ tháng 9/2012, sau một năm “thử nghiệm” theo kiến nghị của UBND Thành phố trước đó.

Trao đổi với ĐTCK về việc Hà Nội kiến nghị bỏ trần phí chung cư, luật sư Bùi Quang Hưng (Văn phòng luật sư BQH và Cộng sự), người từng là đại diện trong nhiều vụ tranh chấp phí chung cư cho rằng, việc bỏ trần phí chung cư là rất nguy hiểm, vì nó có thể khiến tranh chấp tại các chung cư diễn ra nhiều hơn.

Luật sư Hưng cho biết, tại Hà Nội, có đến trên 80% chung cư không có quy định mức phí quản lý trong hợp đồng mua bán. Trong khi đó, việc thu phí chung cư được pháp luật quy định: “Trong trường hợp hợp đồng mua bán nhà không có quy định mức phí quản lý, thì việc thu phí quản lý tuân theo quy định của Nhà nước”.

“Nếu quy định về trần phí chung cư không còn, các chủ đầu tư dễ dàng tùy tiện và độc quyền áp mức phí ‘trên trời’. Từ đó, dẫn tới việc bùng nổ các tranh chấp về phí tại các chung cư”, ông Hưng nói.

Ông Hưng cho biết, các chủ đầu tư sau khi bàn giao nhà, hầu hết vẫn muốn khai thác tòa nhà như một con “bò sữa”. Vì thế, các chủ đầu tư đều nhập nhèm mức phí, nhập nhèm phần diện tích chung - riêng để thu lợi. Vì vậy, nếu không thể áp mức trần phí chung cư, thì Hà Nội nên thành lập một Ban chuyên trách, có sự tham gia của UBND Thành phố, Sở Xây dựng, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường để có những quyết sách và giải quyết kịp thời các tranh chấp nhiều khả năng sẽ phát sinh trong nay mai.
Theo ĐTCK

Điều kiện để cấp sổ đỏ cho đất sử dụng trước năm 1993

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét
Gia đình tôi truớc đây có sử dụng trồng cây lâu năm trên một thửa đất của ông bà để lại trước ngày 15/10/1993, không tranh chấp và các hộ dân tiếp giáp có thể làm chứng cho gia đình tôi. Đất được sử dụng liên tục từ đời ông nội tôi cho đến tôi, mà không thấy nhà nước thu thuế gì cả, đất này hiện tại đang trồng rất nhiều cây lâu năm và hoàn toàn không trúng quy hoạch. 

Do thời gian khá lâu nên không còn lưu giữ được một loại giấy tờ nào của ông nội để chứng minh đất đó. Nhưng dân làng đó có thể làm chứng cho tôi. Và tôi có nguyện vọng xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ, nhưng địa phương nói đất không có tên ai đứng hết và đất này do địa phương quản lý và biểu tôi đợi vài năm nữa đến đợt kê khai lại đất để quy chủ mới được. Như vậy nếu đợi vài năm nữa chắc đất tôi sẽ vào tay người khác mất. Trong bản đồ địa chính có số tờ, số thửa, có diện tích nhưng chỉ thiếu tên. Vậy kính mong các chuyên gia tư vấn giúp đỡ tôi nên làm gì để được cấp giấy QSDĐ. 


Kính gửi: Quý bạn đọc
Căn cứ vào khoản 4 điều 50 luật đất đai 2003 có quy định thì để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình bạn cần phải đáp ứng các điều kiện sau:

1. Gia đình bạn sử dụng đất ổn định trước ngày 15/10/1993

2. Được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp

3. Phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với địa phương bạn.

Nếu đáp ứng các điều kiện trên, gia đình bạn nên liên hệ với UBND cấp quận, huyện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Điều 50. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất 

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.