Hiển thị các bài đăng có nhãn Phân chia tài sản cho con. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phân chia tài sản cho con. Hiển thị tất cả bài đăng

Thủ tục làm giấy tờ sử dụng đất khi không có di chúc của cha mẹ

Unknown | 19:32 | 0 nhận xét
Câu hỏi: Em chào anh(chị), anh(chị) cho em hỏi vấn đề sau ạ. 

Bố mẹ em có 6 người con, có 2 người con trai. Theo phong tục ở quê em tài sản của bố mẹ sẽ để lại cho các con trai. Anh cho em hỏi thủ tục để chuyển tên sổ đỏ tên bố em (Bố mẹ em đã mất 7 năm rồi) sang cho hai anh em em. Nhà em không có tranh chấp nào, các anh chị hoàn toàn đồng ý với phân chia tài sản trên. Anh làm ơn hướng dẫn cho em các thủ tục và giấy tờ cần thiết. 

Em xin cảm ơn.


Kính gửi: Quý bạn đọc


Theo quy định tại Điều 49, Điều 50 của Luật Công chứng, bạn phải đến cơ quan công chứng làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế và ngoài những văn bản từ chối (hoặc tặng cho) này:

- Xác định di sản thừa kế và diện thừa kế 

- Thông báo và niêm yết về việc mở thừa kế 

- Xác lập Văn bản thỏa thuận về phân chia di sản thừa kế Sau khi nhận được thông báo niêm yết về việc mở thừa kế, những người thuộc diện thừa kế tiến hành thủ tục khai nhận và phân chia di sản thừa kế tại phòng công chứng. 

- Phân chia di sản thừa kế Thực hiện thủ tục tại Văn phòng nhà đất: 

- Nhận Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất. 

HỒ SƠ, GIẤY TỜ CẦN CHUẨN BỊ 


Hồ sơ pháp lý các bên khai nhận di sản thừa kế: 

1. CMND hoặc hộ chiếu (bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực) của từng người

2. Hộ khẩu (bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực) 

3. Giấy đăng ký kết hôn, giấy xác nhận hôn nhân thực tế hoặc xác nhận độc thân (bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực)

4. Hợp đồng ủy quyền (02 bản sao có chứng thực), giấy ủy quyền (nếu xác lập giao dịch thông qua người đại diện) 

5. Giấy khai sinh, Giấy xác nhận con nuôi; bản án, sơ yếu lý lịch, các giấy tờ khác (bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực) chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người thừa kế 

6. 02 Văn bản khai nhận thừa kế (đã được công chứng) 

Hồ sơ pháp lý của người đề lại di sản thừa kế 


1. Giấy chứng tử (bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực) của người để lại di sản, giấy báo tử, bản án tuyên bố đã chết (bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực). 

2. Giấy đăng ký kết hôn, giấy xác nhận hôn nhân thực tế hoặc xác nhận độc thân (bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực) 

Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng, quyền sở hữu tài sản là di sản thừa kế 

 Một trong các loại Giấy tờ chứng minh quyền sử dụng/quyền sở hữu như sau: (01 Bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực) 

- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 

- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, 

- Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình trên đất, các loại giấy tờ khác về nhà ở (bản chính kèm 02 bản sao có chứng thực); 

- Giấy phép mua bán, chuyển dịch nhà cửa 

- Giấy tờ hợp thức hóa do UBND quận/huyện cấp. 

2. 02 bản Hồ sơ kỹ thuật thửa đất do cơ quan có chức năng đo đạc lập 

3. 02 đơn cấp lại (nếu cấp lại sổ đỏ) 

Lắm vợ, nhiều con khó... chia đất

Unknown | 21:26 | 0 nhận xét
Hỏi: Bố tôi có tất cả 3 người vợ (trong đó 2 người vợ đã mất) và 7 người con. Năm ngoái bố tôi mất nhưng không để lại di chúc mà chỉ để lại 1 giấy chứng nhận quyền sử dụng mảnh đất có diện tích 2060m.
Hiện nay chúng tôi muốn chia mảnh đất này làm 2 nửa, 1 nửa cho người vợ còn lại của bố tôi, nửa còn lại sẽ chia đều cho 7 anh chị em. Tuy nhiên trong quá trình chia đất thì xảy ra tranh chấp, nhờ chương trình và các chuyên gia tư vấn giúp tôi trong trường hợp như vậy đất chia theo thế nào? 
(Câu hỏi của bạn đọc Phạm Văn Trội ở Quảng Ninh).

Trả lời:

Chúng tôi giả sử các thông tin bạn đưa ra là có cơ sở pháp lý vững chắc. (Ví dụ: Giấy đăng ký kết hôn, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…)

Theo đó, chúng tôi tư vấn như sau:

Bố bạn mất đi không để lại di chúc nên theo quy định tại Điều 675 Bộ luật dân sự. Phần di sản bố bạn để lại sẽ được phân chia theo pháp luật.

Cụ thể theo quy định tại Điều 676 BLDS thì vợ và 7 người con của bố bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Phần di sản bố bạn để lại sẽ được chia đều cho 8 người này.

Tuy nhiên những đồng thừa kế có thể phân chia di sản theo thỏa thuận với điều kiện mọi thỏa thuận phải được lập thành văn bản và tuân thủ quy định pháp luật. Nếu có tranh chấp phát sinh dẫn đến không thỏa thuận được, bạn hoặc những người thừa kế khác có thể khởi kiện ra tòa án có thẩm quyền để được giải quyết.

Chúng tôi cũng lưu ý bạn là: thời hiệu để khởi kiện yêu cầu tòa án phân chia di sản theo quy định tại Điều 645 BLDS là 10 năm.

Ls Hoàng Tuấn Anh, VP Luật Hoàng Kim
Theo Vietnamnet

Phân chia tài sản cho con

Unknown | 20:57 | 0 nhận xét
Câu hỏi: Gia đình tôi hiện có 8 người con và chỉ có 1 mình tôi là nam còn lại 7 người là nữ ( 7 người nữ này hiện đã có gia đình và sống riêng tư) mẹ tôi mất sớm vào năm 1986, hiện ba tôi tuổi đã cao ngoài 70 nên ông quyết định để căn nhà từ xưa hiện đang ở lại cho tôi ( căn nhà này có từ trước 1975 nên chưa có cấp giấy chủ quyền) nên khi tiến hành làm giấy chủ quyền và di chúc lại cho tôi thì gặp phải sự tranh chấp và đòi chia tài sản của 7 người con nữ còn lại...nên ba tôi chưa thể tiến hành làm giấy chủ quyền cho tôi được. 

Trong khi đó chính quyền nơi làm giấy chủ quyền đòi hỏi phải có sự đồng ý và ký tên của 7 người nữ còn lại mới cấp giấy chủ quyền cho ba tôi cũng như muốn bán căn nhà trên. Khi đó căn nhà này là của ba tôi mua khi chúng tôi chưa ra đời mà sao ba tôi không có quyền quyết định hay là chính quyền sở tại giải thích sai? 

Như vậy ba tôi muốn làm giấy chủ quyền hoặc di chúc cho tôi hoàn toàn căn nhà trên thì phải làm như thế nào? Khi mà ba tôi hoàn toàn chỉ muốn để căn nhà lại cho 1 mình tôi mà không gặp phải sự tranh chấp của 7 người nữ còn lại? Hoặc giả Ba tôi chỉ để di chúc lại cho tôi về sau này ba tôi có mất đi lúc đó mới công bố di chúc cho tôi thì tôi có quyền để hưởng trọn vẹn căn nhà trên không? Xin tòa soạn vui lòng giải thích và chỉ dẫn dùm. Xin nhận nơi đây lòng thành thật biết ơn… 


Kính gửi: Quý bạn đọc


Đất của ba bạn đã có từ trước năm 1975 và chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo quy định tại Điều 50 Luật đất đai 2003. Nếu ba của bạn có một trong những giấy tờ quy định tại điều này sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không cần sự đồng ý của các con.

Điều 50. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất 

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính; 

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất. 

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

5. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ.

7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.

Như vậy, việc ba của bạn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không cần phải có sự đồng ý của các con, chỉ cần ba của bạn có một trong những giấy tờ được quy định như trên. 

Tuy nhiên, đối với việc lập di chúc ba của bạn chỉ được để lại phần tài sản thuộc sở hữu của mình, chứ không phải để lại toàn bộ căn nhà và đất. Vì căn nhà là tài sản chung của vợ chồng, mẹ của bạn đã mất mà không để lại di chúc nên phần tài sản của mẹ bạn sẽ được chia theo pháp luật khi có yêu cầu. Lúc này 8 người con và ba của bạn đều có quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật khi có yêu cầu (mỗi người được một phần bằng nhau của nữa căn nhà còn lại).

Như vậy ba của bạn muốn cho toàn bộ căn nhà cho bạn, thì cần sự đồng ý của những đồng thừa kế còn lại. Nếu không, ba của bạn chỉ có thể để di chúc lại cho bạn một nữa căn nhà.



Theo Diaoconline