Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghị định 71/2010/NĐ-CP. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghị định 71/2010/NĐ-CP. Hiển thị tất cả bài đăng

Những thủ tục mua nhà không chính chủ

Unknown | 20:26 | 0 nhận xét

Hỏi: Tôi đang có nhu cầu mua một căn hộ, nhưng căn hộ đó không có chính chủ, mà chủ cũ của căn nhà lại ủy quyền cho em gái bán. Vậy, nếu mua tôi phải làm thủ tục gì để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình? Tôi xin chân thành cảm ơn! (Lê Việt Bách, vietbach@gmail.com).

Trả lời

Theo dữ kiện anh cung cấp thì tình trạng pháp lý căn hộ tóm tắt lại là đã mua bán và được bàn giao, hiện đang chờ cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu.

Căn cứ vào pháp luật và thực tiễn áp dụng chúng tôi có đưa ra giải pháp như sau để bạn tham khảo:

Theo quy định tại Điểm 3, Điều 21 Thông tư 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010 hướng dẫn Nghị định 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010, có quy định: “... Trường hợp uỷ quyền quản lý, sử dụng, trông coi nhà ở và uỷ quyền bán, cho thuê, cho thuê mua, tặng cho nhà ở (hoặc uỷ quyền định đoạt nhà ở) thì bên uỷ quyền chỉ được lập văn bản uỷ quyền và cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực chỉ được công chứng, chứng thực việc uỷ quyền này khi nhà ở đã được xây dựng xong (bên uỷ quyền đã có một trong các giấy tờ: giấy chứng nhận quyền sở hữu về nhà ở; biên bản bàn giao nhà ở hoặc biên bản hoàn công công trình nhà ở theo quy định của pháp luật về xây dựng”.

Do đó, căn cứ vào quy định của pháp luật thì căn hộ nêu trên chưa thể làm thủ tục công chứng mua bán căn hộ ngay thời điểm này được mà phải chờ đến khi được cấp Giấy chứng nhận. Hiện tại chỉ có thể làm ủy quyền có công chứng cho anh được quản lý và sử dụng, làm các giấy tờ cấp Giấy chứng nhận và sau khi có giấy chứng nhận thì anh được phép giao dịch tài sản đó.

Trên thực tế và kinh nghiệm bản thân của chúng tôi thì việc anh muốn giao dịch căn hộ ngay thời điểm này vẫn có phương án để giải quyết được.

Thứ nhất, để đảm bảo việc giao dịch của anh là có thật thì anh có thể trọn hình thức đặt cọc để mua căn hộ nêu trên, quy định của pháp luật việc đặt cọc không bắt buộc phải công chứng.

Thứ hai, ngoài hợp đồng đặt cọc để đảm bảo tốt hơn cho anh thì kết hợp làm Hợp đồng ủy quyền để đảm bảo anh luôn theo sát tình trạng pháp lý căn hộ của mình. Ngoài ra trong hợp đồng ủy quyền anh có thể đưa vào nội dung được định đoạt căn hộ (như mua bán, tặng cho…) sau khi được cấp Giấy chứng nhận. Điều đó có thể đảm bảo rằng sau này khi anh được cấp Giấy chứng nhận anh vẫn có thể thay mặt và nhân danh chủ ban đầu để bán cho người thứ ba nếu anh không muốn ở. Trước khi ký hợp đồng này anh nên yêu cầu chủ căn hộ và người chào bán ký hủy Hợp đồng ủy quyền cũ rồi ký mới cho mình để tránh rủi ro với người thứ ba.
Công chứng viên Nguyễn Thị Minh Lý
Theo Dantri

Có được tặng nhà Việt Nam cho con đang ở nước ngoài được không?

Unknown | 16:27 | 0 nhận xét
Hỏi: Vợ chồng tôi chuẩn bị vào Tp.HCM sống với con trai. Chúng tôi có căn nhà ở quê muốn cho cô con gái đã lấy chồng và hiện đang định cư ở Đài Loan. Vậy con tôi có được đăng ký sở hữu nhà này không? (Ông Nguyễn Mạnh Huỳnh, Bắc Trà My, Quảng Nam)

Trả lời

Theo Điều 126 Luật Nhà ở được sửa đổi, bổ sung năm 2009, hướng dẫn tại Nghị định 71/2010 thì nếu con ông được cơ quan có thẩm quyền của VN cho phép cư trú tại VN từ 3 tháng trở lên (và thuộc các trường hợp: a) Người có quốc tịch VN; b) Người gốc VN thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại VN theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hóa, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của VN có nhu cầu và đang làm việc tại VN; người có vợ hoặc chồng là công dân VN sinh sống ở trong nước) thì có quyền sở hữu nhà ở tại VN.

Trường hợp người gốc VN khác các trường hợp nêu trên, nếu được cơ quan có thẩm quyền của VN cấp giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại VN từ 3 tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại VN.

Như vậy, nếu con ông thuộc các trường nêu trên thì có quyền sở hữu và đăng ký quyền sở hữu nhà ở được vợ chồng ông tặng cho.

Còn theo quy định tại Điều 72 Nghị định 71/2010, nếu con ông thuộc trường hợp được phép về VN cư trú dưới 3 tháng hoặc thuộc diện chỉ được sở hữu một nhà ở và tại thời điểm được tặng cho đang có sở hữu nhà ở tại VN thì không được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở và chỉ được hưởng giá trị của nhà ở đó.

Luật sư Võ Công Hạnh
Theo Dân Việt

Quy định về phần sở hữu chung trong nhà chung cư

Unknown | 14:16 | 0 nhận xét
Hỏi: Các ki-ốt kinh doanh dịch vụ và khu vực để xe là sở hữu riêng, hay sở hữu chung trong nhà chung cư?
Trả lời:

Điều 70 Luật Nhà ở năm 2005 và Điều 49 Nghị định 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở đã quy định phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung trong nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu như sau:

Phần sở hữu riêng

Phần sở hữu riêng và các thiết bị sử dụng riêng trong nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu bao gồm:

- Phần diện tích bên trong căn hộ (kể cả diện tích ban công, lô gia gắn liền với căn hộ đó) của chủ sở hữu căn hộ; phần diện tích khác trong nhà chung cư mà chủ đầu tư bán cho riêng từng chủ sở hữu căn hộ hoặc bán cho các tổ chức, cá nhân khác.
- Phần diện tích thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư (chủ đầu tư giữ lại, không bán và cũng không phân bổ giá trị phần diện tích thuộc sở hữu riêng này vào giá bán căn hộ cho các chủ sở hữu căn hộ).

- Các thiết bị sử dụng riêng trong căn hộ, trong phần diện tích khác thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu căn hộ hoặc của các chủ sở hữu khác.

Chủ sở hữu căn hộ, chủ sở hữu các phần diện tích khác trong nhà chung cư được gọi chung là các chủ sở hữu nhà chung cư.

Phần sở hữu chung

Phần sở hữu chung nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu bao gồm phần diện tích và các thiết bị sử dụng chung cho nhà chung cư được quy định như sau:

Phần diện tích thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư bao gồm: Không gian, hành lang, cầu thang bộ, cầu thang máy, sân thượng, khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, sàn, mái, đường thoát hiểm, hệ thống bể phốt, lối đi bộ, sân chơi chung và các phần khác không thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư.

Phần diện tích khác không phải là phần diện tích thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư.

Nơi để xe (xe đạp, xe cho người tàn tật, xe động cơ hai bánh) được xây dựng theo quy chuẩn xây dựng và có thể bố trí tại tầng hầm hoặc tại tầng một hoặc tại phần diện tích khác trong hoặc ngoài nhà chung cư. Đối với khu vực để xe ô tô thì phải xây dựng theo quy chuẩn xây dựng nhưng do chủ đầu tư quyết định thuộc quyền sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư hoặc thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư.

Phần sở hữu riêng và phần sở hữu chung nhà chung cư, các thiết bị sử dụng chung cho nhà chung cư phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán căn hộ chung cư.

Về thắc mắc của bà Trịnh Hồng Ánh, căn cứ các quy định nêu trên thì phần diện tích nhà còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng là thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư. Trong đó có nơi để xe đạp, xe cho người tàn tật, xe động cơ hai bánh tại tầng hầm, hoặc tại tầng một, hoặc tại phần diện tích khác trong hoặc ngoài nhà chung cư là phần sở hữu chung.

Đối với khu vực để xe ô tô do chủ đầu tư quyết định thuộc quyền sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư hoặc thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư.

Phần diện tích khác không phải là phần diện tích thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư là phần diện tích thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư, trong đó có thể có diện tích dùng làm ki ốt để kinh doanh dịch vụ.

Trường hợp phần diện tích ki ốt này do chủ đầu tư giữ lại, không bán và cũng không phân bổ giá trị phần diện tích này vào giá bán căn hộ cho các chủ sở hữu căn hộ, thì diện tích đó thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư.

Theo quy định tại Điều 73 Luật Nhà ở; Điều 50 Nghị định 71/2010/NĐ-CP và Điều 5 Quy chế quản lý sử dụng nhà chung cư (Ban hành kèm theo Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD ngày 28/5/2008 của Bộ Xây dựng) thì việc quản lý phần sở hữu chung của nhà chung cư phải do doanh nghiệp có năng lực chuyên môn về quản lý vận hành nhà chung cư thực hiện.

LSTrần Văn Toàn- VPLS Khánh Hưng
Theo Chinhphu.vn

Góp vốn mua chung cư: Lợi ít, rủi ro nhiều

Unknown | 21:10 | 0 nhận xét
Khách hàng mua nhà theo dạng hợp đồng góp vốn thì tính rủi ro cao hơn các hình thức khác rất nhiều vì các chủ đầu tư tìm mọi cách để lách luật, trốn tránh thực hiện những nghĩa vụ của mình với khách hàng.

Nghị định 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở (sau đây xin gọi tắt là Nghị định 71) quy định, khi dự án đã hoàn thành xong phần móng thì chủ đầu tư được phép huy động vốn bằng hình thức hợp đồng góp vốn với khách hàng. Hình thức huy động vốn này có thêm những quy định chặt chẽ dành cho phía chủ đầu tư để thực hiện nghĩa vụ của mình với người mua nhà nhưng trong thực tế hầu hết người mua nhà lại không được biết. Điều này sẽ khiến cho việc xin làm giấy chứng nhận quyền sở hữu của người mua nhà sau này gặp nhiều rắc rối, thậm chí có nguy cơ không được làm sổ đỏ...

Với hình thức mua nhà dưới dạng hợp đồng góp vốn, Nghị định 71 quy định chủ đầu tư được phép ký hợp đồng huy động vốn không quá 20% số lượng nhà ở trong mỗi dự án mà không phải thông qua sàn giao dịch bất động sản khi dự án đã hoàn thành xong phần móng.

Quy định cũng buộc chủ đầu tư, nếu tổ chức việc huy động vốn theo hình thức này thì phải có văn bản thông báo cho Sở Xây dựng tỉnh, thành phố, nơi phát triển dự án, chậm nhất sau 15 ngày kể từ khi công bố bán nhà, đồng thời phải báo rõ hình thức và số vốn cần huy động, địa chỉ của nhà đầu tư, số lượng nhà sẽ bán. Chỉ khi chủ đầu tư làm đầy đủ các thủ tục đó, sau này những người đã góp vốn trong giai đoạn đầu ở diện 20% không thông qua sàn đó mới được các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu.

Những điều kiện bắt buộc này nhằm làm cho thị trường bất động sản minh bạch hơn, tuy vậy, nhiều chủ đầu tư vì lợi nhuận hoặc vì lý do khác đã phớt lờ các quy định. Và đương nhiên, người góp vốn mua nhà sẽ phải lãnh đủ. Họ sẽ không thể làm các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu vì… vi phạm quy định.

Theo thống kê của Sở Xây dựng Hà Nội, từ tháng 10/2010 đến nay, Sở Xây dựng mới chỉ nhận được 10 danh sách và cũng mới xác minh được 2 danh sách, trong khi tổng số dự án lớn nhỏ trên địa bàn Hà Nội là con số khổng lồ. Như vậy, chủ đầu tư đã cố tình lờ đi nghĩa vụ của mình đối với khách hàng khi đã thu tiền nhưng không nộp danh sách lên để Sở Xây dựng kiểm tra theo quy định.

Nguyên nhân thì không khó để hiểu, bởi nếu có danh sách đó thì chủ đầu tư sẽ bị kiểm soát, không thể bán quá số lượng 20%, hoặc bán toàn bộ khi dự án mới chỉ vừa hoàn thành xong phần móng. Hậu quả của câu chuyện này là những người góp vốn mua nhà trong diện 20% không thông qua sàn sẽ không đủ điều kiện để được cấp sổ đỏ. Với các dự án trên địa bàn TP Hà Nội hiện nay thì số lượng khách hàng chịu thiệt thòi chắc chắn cũng không phải là ít.

Luật sư Bùi Sinh Quyền, Trưởng Văn phòng luật sư Phúc Thọ cho biết, khách hàng mua nhà theo dạng hợp đồng góp vốn thì tính rủi ro cao hơn các hình thức khác rất nhiều vì các chủ đầu tư tìm mọi cách để lách luật, trốn tránh thực hiện những nghĩa vụ của mình với khách hàng. Văn phòng luật sư Phúc Thọ cũng đã từng phải tham gia bảo vệ quyền lợi cho nhiều khách hàng với những trường hợp tương tự. Khi ký kết hợp đồng khách hàng có quyền yêu cầu chủ đầu tư bắt buộc phải thực hiện theo hợp đồng đã ký và thực hiện đúng lộ trình cấp sổ đỏ. Nếu chủ đầu tư không thực hiện đúng các cam kết và theo đúng lộ trình thì có thể đưa vấn đề ra toà án để giải quyết.

Bên cạnh đó, trước khi ký kết, khách hàng cũng cần phải chú ý xem xét kỹ lưỡng các điều khoản trong hợp đồng bởi thực tế qua những vụ việc cụ thể mà luật sư đã gặp thì trong các hợp đồng này, trách nhiệm của khách hàng thì nhiều, còn đối với chủ đầu tư thì ngược lại. Khi khách hàng thực hiện các nghĩa vụ tài chính của mình qua các đợt nộp tiền cũng cần phải yêu cầu chủ đầu tư cho xem xét tiến độ thực hiện dự án, rồi cơ sở hạ tầng như: đường xá, điện, nước… ví dụ như đợt 1 đóng 30% giá trị hợp đồng thì dự án thực hiện đến đâu, đợt 2 đóng 35% giá trị hợp đồng thì tiến độ dự án ở giai đoạn nào. Khách hàng cần chủ động yêu cầu chủ đầu tư, đồng thời chủ đầu tư cũng phải có trách nhiệm cho người mua nhà biết mọi vấn đề liên quan đến tiến độ thực hiện dự án.

Thêm nữa, người mua nhà cũng cần phải "chọn mặt gửi vàng" với các chủ đầu tư có uy tín vì thời gian qua đã xảy ra rất nhiều những vụ lừa đảo, những chủ đầu tư làm ăn không đúng theo các quy định của pháp luật.

Bên cạnh những hợp đồng mua nhà theo hình thức góp vốn có nguy cơ không được cấp sổ đỏ hiện này là tình trạng rất nhiều chung cư mini cũng khó có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, và số lượng chung cư mini này cũng không nhỏ. Yêu cầu bắt buộc với chung cư mini là phải có giấy phép xây dựng đảm bảo nhiều yếu tố như quy hoạch của khu vực, phương thức phòng cháy chữa cháy, cầu thang thoát hiểm, phải nộp thuế và các lệ phí kinh doanh…

Tuy nhiên, kết quả kiểm tra đột xuất tại 16 xã, phường thuộc 11 quận, huyện thuộc thành phố Hà Nội của đoàn kiểm tra liên ngành trong tháng 5/2011 vừa qua thì kết quả là rất ít chung cư mini đáp ứng đầy đủ các quy định để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu. Cũng chính vì thế mà đến thời điểm hiện tại, việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu cho chung cư mini trên địa bàn TP Hà Nội vẫn đang bị tắc.

Lý giải về điều này, ông Nguyễn Trọng Hiền, Trưởng phòng Quản lý nhà và thị trường bất động sản - Sở Xây dựng Hà Nội cho hay, ngoài các quy định như đã nêu trên, muốn được cấp giấy chứng nhận, tòa nhà cần phải thỏa mãn thêm 2 điều kiện: dưới 6 tầng, tùy vị trí, UBND quận, huyện hoặc Sở Xây dựng sẽ xem xét cấp phép xây dựng; nếu công trình từ 9 tầng trở lên, phải có thêm thỏa thuận về quy hoạch.

Thực tế từ đợt kiểm tra vừa rồi, phần lớn các dự án chung cư mini đã và đang xây dựng hiện nay đều trong tình trạng giấy phép xây dựng một đàng, chủ nhà làm một nẻo và vì thế nên tình trạng không xin được giấy chứng nhận sở hữu trở nên khá phổ biến. Bên cạnh đó, hầu hết các dự án đều xây dựng trên các diện tích đất nhỏ, trong ngõ sâu, hạ tầng quá tải, chật hẹp. Vi phạm các quy định về an toàn sử dụng nên không đủ điều kiện cấp phép

(Theo CAND)