Hiển thị các bài đăng có nhãn quy định. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quy định. Hiển thị tất cả bài đăng

Làm sao để có hộ khẩu Hà Nội?

Unknown | 23:52 | 0 nhận xét

Tôi xin được tư vấn về trường hợp nhập hộ khẩu Hà Nội: Chị họ tôi (A) hiện tại đang làm việc tại Hà Nội, đã có nhà riêng và hộ khẩu tại Hà Nội...
Em gái ruột chị tôi (B) là giáo viên và vừa xin vào một trường cấp một tại Hà Nội nhưng yêu cầu phải có sổ hộ khẩu Hà Nội. Chị B hiện tại đang làm giáo viên tại Thành Phố Thái Bình.

Vậy Chị B có thể nhập vào hộ khẩu chị gái tôi được không, nếu được thì cần các hồ sơ thủ tục như thế nào, nếu không thì vì lý do gì? (Câu hỏi của bạn đọc Nguyễn ở ngõ 100, Kim Ngưu, Thanh Nhàn).

Trả lời:

Theo nội dung trao đổi của bạn, chúng tôi có một số ý kiến tư vấn như sau:

Theo quy định tại Điều 20 Luật cư trú  thì  Công dân thuộc một trong những trường hợp sau đây thì được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương:

1. Có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục tại thành phố đó từ một năm trở lên. Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản;

2. Được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Vợ về ở với chồng; chồng về ở với vợ; con về ở với cha, mẹ; cha, mẹ về ở với con;
b) Người hết tuổi lao động, nghỉ hưu, nghỉ mất sức, nghỉ thôi việc chuyển về ở với anh, chị, em ruột;
c) Người tàn tật, mất khả năng lao động, người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi về ở với anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ;
d) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có khả năng nuôi dưỡng về ở với ông, bà nội, ngoại, anh, chị, em ruột, cô, dì, chú, bác, cậu ruột, người giám hộ;
đ) Người thành niên độc thân về sống với ông, bà nội, ngoại;

3. Được điều động, tuyển dụng đến làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc theo chế độ hợp đồng không xác định thời hạn và có chỗ ở hợp pháp. Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản;

4. Trước đây đã đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương, nay trở về thành phố đó sinh sống tại chỗ ở hợp pháp của mình. Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản.

Theo như thông tin bạn cung cấp thì chị B hiện đang thường trú tai Thái Bình. Như vậy trường hợp của chị B không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 4 của điều luật.

Theo khoản 3 thì để cố hộ khẩu tại Hà Nội, chị B cần đáp ứng được 2 điều kiện:

- Được điều động, tuyển dụng đến làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước
- Có chỗ ở hợp pháp hoặc được người có chỗ ở hợp pháp đồng ý cho thuê mượn… bằng văn bản.

Trường hợp của chị B do có sự đồng ý của chị A nên bạn chỉ cần quan tâm đến điều kiên đầu tiên: Được điều động, tuyển dụng đến làm việc tại cơ quan, tổ chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Tuy nhiên ở đây phát sinh mâu thuẫn là: Nơi tuyển dụng chị B lại yêu cầu chị B phải có hộ khẩu thường trú mới tuyển dụng.

Vì thế, trong trường hợp này sẽ rất khó để  nhập khẩu cho chị B theo khoản 3 của Điều luật. Đây là những bất cập trong quy đinh của pháp luật mà có lẽ trong thời gian tới nhà làm luật sẽ đưa ra giải pháp khắc phục.

Hiện tại, để nhập khẩu tại Hà Nội chị B cần thực hiện theo quy định tại Khoản 1 đó là đăng ký tạm trú tại nhà chị A một năm sau đó mới đủ điều kiện xin nhập khẩu.
Ls Hoàng Tuấn Anh, VP Luật Hoàng Kim
Theo Vietnamnet

Quy định về phần sở hữu chung trong nhà chung cư

Unknown | 14:16 | 0 nhận xét
Hỏi: Các ki-ốt kinh doanh dịch vụ và khu vực để xe là sở hữu riêng, hay sở hữu chung trong nhà chung cư?
Trả lời:

Điều 70 Luật Nhà ở năm 2005 và Điều 49 Nghị định 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở đã quy định phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung trong nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu như sau:

Phần sở hữu riêng

Phần sở hữu riêng và các thiết bị sử dụng riêng trong nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu bao gồm:

- Phần diện tích bên trong căn hộ (kể cả diện tích ban công, lô gia gắn liền với căn hộ đó) của chủ sở hữu căn hộ; phần diện tích khác trong nhà chung cư mà chủ đầu tư bán cho riêng từng chủ sở hữu căn hộ hoặc bán cho các tổ chức, cá nhân khác.
- Phần diện tích thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư (chủ đầu tư giữ lại, không bán và cũng không phân bổ giá trị phần diện tích thuộc sở hữu riêng này vào giá bán căn hộ cho các chủ sở hữu căn hộ).

- Các thiết bị sử dụng riêng trong căn hộ, trong phần diện tích khác thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu căn hộ hoặc của các chủ sở hữu khác.

Chủ sở hữu căn hộ, chủ sở hữu các phần diện tích khác trong nhà chung cư được gọi chung là các chủ sở hữu nhà chung cư.

Phần sở hữu chung

Phần sở hữu chung nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu bao gồm phần diện tích và các thiết bị sử dụng chung cho nhà chung cư được quy định như sau:

Phần diện tích thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư bao gồm: Không gian, hành lang, cầu thang bộ, cầu thang máy, sân thượng, khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, sàn, mái, đường thoát hiểm, hệ thống bể phốt, lối đi bộ, sân chơi chung và các phần khác không thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư.

Phần diện tích khác không phải là phần diện tích thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư.

Nơi để xe (xe đạp, xe cho người tàn tật, xe động cơ hai bánh) được xây dựng theo quy chuẩn xây dựng và có thể bố trí tại tầng hầm hoặc tại tầng một hoặc tại phần diện tích khác trong hoặc ngoài nhà chung cư. Đối với khu vực để xe ô tô thì phải xây dựng theo quy chuẩn xây dựng nhưng do chủ đầu tư quyết định thuộc quyền sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư hoặc thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư.

Phần sở hữu riêng và phần sở hữu chung nhà chung cư, các thiết bị sử dụng chung cho nhà chung cư phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán căn hộ chung cư.

Về thắc mắc của bà Trịnh Hồng Ánh, căn cứ các quy định nêu trên thì phần diện tích nhà còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng là thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư. Trong đó có nơi để xe đạp, xe cho người tàn tật, xe động cơ hai bánh tại tầng hầm, hoặc tại tầng một, hoặc tại phần diện tích khác trong hoặc ngoài nhà chung cư là phần sở hữu chung.

Đối với khu vực để xe ô tô do chủ đầu tư quyết định thuộc quyền sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư hoặc thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư.

Phần diện tích khác không phải là phần diện tích thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư là phần diện tích thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư, trong đó có thể có diện tích dùng làm ki ốt để kinh doanh dịch vụ.

Trường hợp phần diện tích ki ốt này do chủ đầu tư giữ lại, không bán và cũng không phân bổ giá trị phần diện tích này vào giá bán căn hộ cho các chủ sở hữu căn hộ, thì diện tích đó thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư.

Theo quy định tại Điều 73 Luật Nhà ở; Điều 50 Nghị định 71/2010/NĐ-CP và Điều 5 Quy chế quản lý sử dụng nhà chung cư (Ban hành kèm theo Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD ngày 28/5/2008 của Bộ Xây dựng) thì việc quản lý phần sở hữu chung của nhà chung cư phải do doanh nghiệp có năng lực chuyên môn về quản lý vận hành nhà chung cư thực hiện.

LSTrần Văn Toàn- VPLS Khánh Hưng
Theo Chinhphu.vn