Hiển thị các bài đăng có nhãn sở hữu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sở hữu. Hiển thị tất cả bài đăng

Bán nhà sở hữu 15 năm: Hình thức thuê kiểu mới

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Do tâm lý muốn sở hữu một tài sản là bất động sản nên khi nghe nói đến việc chỉ được sở hữu 15 năm thì nhiều người không thích, chưa kể họ vẫn không muốn bị mất một số tiền lớn ngay từ đầu nên ngại việc thuê ở căn hộ.
Phòng bếp căn hộ mẫu cho thuê 240 triệu đồng trong 15 năm.
Gần đây, dư luận đang xôn xao về một dự án cho thuê nhà kiểu mới là trả trước 240 triệu đồng (góp theo tiến độ thành 5 đợt) để được ở căn hộ 35 m2 trong vòng 15 năm tại dự án Twin Towers (nằm trên đường Mã Lò, quận Bình Tân - Tp.HCM) của Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Lê Thành. Hiện tại 22/44 căn hộ đã có người thuê.

Trả trước tiền thuê

Anh Dũng, ở quận 3 - Tp.HCM, đang chuẩn bị lập gia đình, cho biết anh đang phân vân không biết có nên chọn thuê căn hộ này.

Tuy nhiên, nhiều người khác chọn dịch vụ này ngay, trong đó cũng hình thức đưa tiền trước nhưng cách anh Võ Thanh Phong (quê huyện Cai Lậy - Tiền Giang) chọn là “cầm cố không lãi suất” mà giới kinh doanh bất động sản gọi là sang nhà. Cụ thể, hiện anh đang ở căn nhà có diện tích 4 m x 18 m nằm đường Bến Phú Định (quận 8 - Tp.HCM) gần 1 năm. Để được ở miễn phí trong vòng 2 năm, anh đưa cho chủ nhà 250 triệu đồng. Đến khi hết hạn hợp đồng, anh sẽ lấy lại đúng số tiền này và trả lại nhà cho chủ. Nếu muốn ở tiếp thì hai bên thương lượng lại. Anh Phong cho biết anh đã chọn thuê kiểu này nhiều năm nay.
Theo anh Phong, với hình thức này, điều khiến người thuê chưa yên tâm là về thỏa thuận, hợp đồng và công chứng… Vì thực tế, chủ nhà có thể lấy lại nhà bất cứ lúc nào và họ chấp nhận bồi thường thiệt hại theo tỉ lệ hai bên thỏa thuận, thông thường là khoảng 20% giá trị tiền dùng để cầm cố. Nếu có người quen, có uy tín, biết rõ nguồn gốc của căn nhà cũng như của chủ nhà là điều thuận lợi.

Chọn cách nào tiện, lợi?

Nhiều người cho rằng thà dùng 240 triệu đồng gửi ngân hàng rồi lấy tiền lãi đi thuê nhà ở thì số tiền trên vẫn còn. Ông Lê Hữu Nghĩa, chủ đầu tư dự án này, phân tích với 240 triệu đồng chia ra 15 năm thì mỗi tháng, giá thuê căn hộ này chỉ khoảng 1,3 triệu đồng. Trong khi giá thuê một căn hộ hiện tại có cùng diện tích ít nhất cũng phải 4 triệu đồng/tháng.

Ông Nghĩa giải thích thêm nếu không thuê nhà theo kiểu này mà đem tiền bỏ ngân hàng lấy lãi 24 triệu đồng/năm, trong khi tiền thuê căn hộ ngoài thị trường  mỗi năm là 48 triệu đồng, như vậy họ phải rút 24 triệu đồng trong phần vốn để bù vào tiền thuê, vì thế số vốn ban đầu chỉ còn 216 triệu đồng. Cứ thế mỗi năm vốn gốc giảm dần, trong khi giá thuê căn hộ luôn luôn tăng. Như vậy, chỉ 6 năm thì hết sạch 240 triệu đồng.

Ông Nguyễn Văn Đực, Phó Chủ tịch Hiệp hội Bất Động sản Tp.HCM, cho rằng hình thức cho thuê nhà kiểu như dự án Twin Towers là chấp nhận được và phù hợp với túi tiền cũng như khả năng của nhiều người trong giai đoạn khó khăn hiện nay. "Ví dụ như một người hiện tại không có trong tay phải đi vay 240 triệu đồng và thuê nhà của dự án này. Tính toàn cho cả lãi suất và tiền vay thì những năm đầu họ phải chi trả khoảng 3,7 triệu đồng/tháng tiền thuê, những năm sau họ chỉ còn trả khoảng 1,7 triệu đồng, như thế cũng hợp lý", ông Đực nói.
Theo NLĐ

Bế mạc hội nghị TƯ 5: Tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân

Unknown | 20:07 | 0 nhận xét
Phải tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Quyền sử dụng đất không phải là quyền sở hữu - hội nghị TƯ 5 xác định.

Sáng 15/5, hội nghị lần thứ năm BCH Trung ương Đảng khóa XI đã bế mạc sau 9 ngày làm việc. 

Đã có hơn 750 lượt ý kiến phát biểu ở tổ và hội trường; nhiều ủy viên TƯ gửi ý kiến bằng văn bản hoặc sửa trực tiếp vào các dự thảo nghị quyết, kết luận. Bộ Chính trị đã tiếp thu tối đa và giải trình những vấn đề còn có ý kiến khác nhau; Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất thông qua nội dung các nghị quyết, kết luận của hội nghị.
Ảnh: TTXVN
Phát biểu bế mạc, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm rõ thêm một số vấn đề và khái quát lại những kết quả quan trọng mà hội nghị đã đạt được.

Sửa Hiến pháp: Lấy ý kiến nhân dân
Về tổng kết, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, Tổng bí thư nhấn mạnh, đây là một nội dung rất lớn, đặc biệt quan trọng của hội nghị lần này. Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là yêu cầu khách quan, cần thiết. Trung ương đã xem xét, thảo luận báo cáo của Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, cơ bản tán thành nhiều nội dung; đồng thời tiếp tục nhấn mạnh, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là công việc đặc biệt quan trọng, nhạy cảm, phải có quan điểm và cách nhìn toàn diện, biện chứng, cụ thể, lịch sử, có cách làm khoa học, thận trọng; tránh tư duy tư biện, xa rời thực tiễn.

Các đề xuất sửa đổi, bổ sung phải dựa trên kết quả tổng kết sâu sắc thực tế thi hành Hiến pháp năm 1992 và các đạo luật có liên quan; quán triệt đầy đủ yêu cầu thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng; tiếp tục kế thừa những quy định của Hiến pháp năm 1992 và các bản Hiến pháp trước đây còn phù hợp.

Về quy trình sửa đổi, hội nghị thống nhất, cần thực hiện theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 2 (khóa XI), tiến hành một cách chặt chẽ, khoa học, dưới sự lãnh đạo của Đảng; có cơ chế bảo đảm sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học, các nhà quản lý và tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân về các nội dung sửa đổi, để Quốc hội có đầy đủ cơ sở xem xét, quyết định. 

Cùng với việc cho ý kiến về định hướng những nội dung cơ bản cần bổ sung, sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Trung ương cũng đã góp nhiều ý kiến quan trọng vào các phương án cụ thể, làm rõ hơn những mặt được, mặt chưa được của mỗi phương án để Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp tiếp tục cân nhắc, lựa chọn. 

Quyền sử dụng đất không phải là quyền sở hữu

Hội nghị nhất trí cho rằng: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn sống của nhân dân; là tài sản, là nguồn lực to lớn của đất nước. Phải tiếp tục khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; đồng thời quy định rõ ràng, cụ thể hơn và thực thi đầy đủ, đúng đắn hơn các quyền của đại diện chủ sở hữu và quyền thống nhất quản lý của Nhà nước... Quyền sử dụng đất cũng là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu. Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai; không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân.

Khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung luật Đất đai và hoàn thiện pháp luật về đất đai để sớm khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại hiện nay, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phân bổ hợp lý, sử dụng đất đai đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả, bảo đảm lợi ích trước mắt và lâu dài, bảo vệ môi trường sinh thái. Nâng cao chất lượng và bảo vệ đất canh tác nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững. Phát triển lành mạnh thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, người dân và nhà đầu tư.

Tiếp tục thực hiện giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân có thời hạn nhưng có thể kéo dài hơn để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đồng ruộng và yên tâm đầu tư sản xuất. Đồng thời mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể từng vùng, để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tích tụ, tập trung đất, từng bước hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn trong nông nghiệp.

Ban chỉ đạo TƯ chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị

Hội nghị nhất trí cho rằng, từ khi Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) được ban hành, các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và cả hệ thống chính trị đã chủ động, tích cực vào cuộc. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã có những chuyển biến tích cực cả về nhận thức và hành động, nhất là trong phòng ngừa, công khai, minh bạch hoá hoạt động của bộ máy nhà nước, cải cách thủ tục hành chính, quản lý tài sản công; trên một số lĩnh vực, tham nhũng, lãng phí đã từng bước được kiềm chế. Tuy nhiên, công tác phòng, chống tham nhũng chưa đạt được yêu cầu "ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng".

Trung ương nhấn mạnh, phải kiên trì và đẩy mạnh nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí... Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền và người đứng đầu; bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế, xã hội; tăng cường công tác tổ chức và cán bộ; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí; mở rộng dân chủ, công khai, minh bạch; phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, nhân dân và công luận. 

BCH Trung ương thống nhất chủ trương thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị; lập lại Ban Nội chính Trung ương, vừa thực hiện chức năng một ban đảng, đồng thời là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. 

Bảo đảm an sinh xã hội

Về chính sách xã hội, BCH Trung ương yêu cầu, trong thời gian tới phải nghiêm túc quán triệt các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, coi việc không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người có công và bảo đảm an sinh xã hội là một nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị và là trách nhiệm của toàn xã hội. Phấn đấu đến năm 2015, cơ bản hoàn thành mục tiêu bảo đảm các gia đình người có công có mức sống tối thiểu bằng mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn; đến năm 2020 cơ bản bảo đảm an sinh xã hội bao phủ toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin. 

Muốn thế, phải tập trung hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt luật pháp, chính sách và các nhiệm vụ, giải pháp về xã hội với trọng tâm là tạo việc làm, thu nhập; bảo hiểm xã hội; trợ giúp xã hội; bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho toàn xã hội, đặc biệt là người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và người có hoàn cảnh khó khăn. 

Các chính sách ưu đãi người có công và an sinh xã hội phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội và khả năng cân đối, huy động nguồn lực của đất nước; ưu tiên cho người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Hệ thống an sinh xã hội phải đa dạng, toàn diện, bảo đảm công bằng và bền vững, có tính chia sẻ giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ, giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Nhà nước bảo đảm thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công; đồng thời giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội; đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia... 

Soát lại lương trong doanh nghiệp nhà nước
Về vấn đề tiền lương, bảo hiểm xã hội, Trung ương yêu cầu, trong năm 2012 - 2013, phải khẩn trương bổ sung, sửa đổi một số chính sách cần và có thể điều chỉnh ngay nhằm sớm khắc phục những bất hợp lý nổi cộm hiện nay; ưu tiên điều chỉnh tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang gắn với việc khắc phục tình trạng quá nhiều loại phụ cấp; soát xét lại chế độ tiền lương trong các doanh nghiệp nhà nước, khắc phục tình trạng bất hợp lý, chênh lệch quá lớn giữa cán bộ quản lý và người lao động; tiền lương, thu nhập không gắn với kết quả sản xuất kinh doanh. 

Đẩy mạnh việc đổi mới, sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công theo tinh thần Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khóa X). Nghiêm túc triển khai thực hiện Đề án tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước theo tinh thần Kết luận Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI)… Điều chỉnh trợ cấp ưu đãi người có công, lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội cùng với mức tăng và thời điểm điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu của cán bộ, công chức… Đồng thời, khẩn trương nghiên cứu xây dựng Đề án cải cách chế độ tiền lương giai đoạn 2013 - 2020 cùng với các đề án có liên quan, tạo bước đột phá trong việc tạo nguồn, bảo đảm cho cải cách tiền lương, thu được kết quả.

Tiến hành đồng bộ cải cách tiền lương với cải cách hành chính, tinh giản bộ máy tổ chức, biên chế, tái cấu trúc nền tài chính công và các lĩnh vực có liên quan khác; gắn điều chỉnh tiền lương với điều chỉnh chính sách bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị ngay sau hội nghị này, mỗi ủy viên Trung ương phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm cá nhân, cùng với cấp ủy và chính quyền lãnh đạo và tổ chức thực hiện thật tốt các nghị quyết, kết luận của hội nghị Trung ương lần này, cùng các nghị quyết khác của Đảng, của Quốc hội và Chính phủ; bảo đảm hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012.

Nếu nhà nhỏ có nên làm thủ tục đồng sở hữu?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét
Hỏi: Tôi có mua một căn nhà ở quận 8. Tình trạng nhà như sau: căn nhà thuộc mảnh đất khoảng 200m2 của bà B. Bà B đã chia mảnh đất ra thành từng miếng nhỏ, xây nhà và bán.

Mảnh đất của bà B nằm trên thửa đất chung 1.000 m2 của bà A. Bà B đã mua lại bằng giấy tay của bà A. Diện tích căn nhà tôi mua: 3x10m (chưa có số nhà cũng như giấy tờ hợp lệ). Thửa đất chung của bà A đã có sổ đỏ.

Bà A đã phân mảnh đất ra và bán cho nhiều người (trong đó có bà B - chủ căn nhà tôi mua). Tôi biết với diện tích trên thì không được tách thửa.

Xin cho tôi hỏi: tôi cần làm thủ tục gì để đảm bảo tính pháp lý của căn nhà? Tôi đã hỏi một người bạn, được biết nhà diện tích nhỏ thì không ra mua bán công chứng được? Tôi có thể làm thủ tục đồng sở hữu được không? Hien Pham, (hienpham198@...)

Trả lời

1. Về diện tích tối thiểu được phép tách thửa

Căn cứ điều 3 quyết định số 19/2009/ QĐ-UBND ngày 25-2-2009 của UBND TP.HCM, tại địa bàn quận 8, đối với đất có nhà, diện tích tối thiểu được phép tách thửa là 36m2 đối với đường phố có lộ giới nhỏ hơn 20m. Do đó, căn nhà của ông/bà không đủ diện tích để tách thửa.

2. Về thủ tục pháp lý liên quan đến quyền sở hữu căn nhà

Căn cứ điều 169 Bộ luật dân sự, thì quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân đối với tài sản được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Căn cứ điều 9 Luật nhà ở, thì chủ sở hữu nhà ở là người tạo lập hợp pháp nhà ở.

Căn cứ khoản 2 điều 10, Luật nhà ở, tạo lập nhà ở hợp pháp là việc tạo lập thông qua đầu tư xây dựng, mua bán, tặng cho, thừa kế… theo quy định của pháp luật.

Do căn nhà của ông/ bà không đủ diện tích để tách thửa nên không thể làm thủ tục hợp thức hóa chủ quyền cho ông/bà liên quan đến phần nhà đất đã mua và xây dựng nhà.

Bởi vậy cách tốt nhất để bảo đảm quyền lợi của ông/ bà trong trường hợp này là những người đang sử dụng nhà đất và người đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thỏa thuận chuyển quyền sở hữu cho những người đang sử dụng trên mỗi phần đất trong cùng một hợp đồng chuyển nhượng theo hình thức sở hữu chung theo phần, trong đó xác định tỉ lệ phần trăm sở hữu của mỗi chủ sở hữu theo điều 216 Bộ luật dân sự.

Nhưng khi thực hiện thủ tục chuyển nhượng tại phòng công chứng, ông/bà cần lưu ý những điểm sau:

- Hiện trạng trên đất phải đúng hiện trạng của thửa đất được ghi trên giấy chứng nhận.

- Mục đích đang sử dụng đất phải đúng với mục đích sử dụng đất được ghi trên giấy chứng nhận.

Để thuận lợi và rõ ràng trong việc sử dụng, trong thực tế các bên có thể lập bản vẽ xác định phần nhà đất mà các bên đang sử dụng, lối đi chung để tránh những trường hợp tranh chấp khi sử dụng.

Luật sư Phạm Đình Sơn
Theo TTO

Có được quyền sở hữu tài sản vô chủ?

Unknown | 19:50 | 0 nhận xét

Hỏi: Người phát hiện ra tài sản vô chủ có quyền sở hữu tài sản đó không? Xin cảm ơn (Linh, Email: linh.liberty@yahoo.com).

Trả lời

Về câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Theo quy định tại Ðiều 187 Bộ luật dân sự 2005 quy định về Quyền chiếm hữu tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu:

“1. Người phát hiện tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phải thông báo hoặc trả lại ngay cho chủ sở hữu; nếu không biết ai là chủ sở hữu thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Ðối với tài sản do người khác tẩu tán nhằm che giấu hành vi vi phạm pháp luật hoặc trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự thì người phát hiện phải thông báo hoặc giao nộp ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Ðiều này”.

Như vậy, người phát hiện ra tài sản vô chủ phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật.

Ðiều 239 Bộ luật dân sự 2005 quy định về Xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được chủ sở hữu quy định như sau:

“1. Vật vô chủ là vật mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu đối với vật đó.

Người đã phát hiện vật vô chủ là động sản thì có quyền sở hữu tài sản đó theo quy định của pháp luật; nếu vật được phát hiện là bất động sản thì thuộc Nhà nước.

2. Người phát hiện vật không xác định được ai là chủ sở hữu phải thông báo hoặc giao nộp cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn hoặc công an cơ sở gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.

Việc giao nộp phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người giao nộp, người nhận, tình trạng, số lượng, khối lượng tài sản giao nộp.

Uỷ ban nhân dân hoặc công an cơ sở đã nhận vật phải thông báo cho người phát hiện về kết quả xác định chủ sở hữu.

Trong trường hợp vật không xác định được ai là chủ sở hữu là động sản thì sau một năm, kể từ ngày thông báo công khai, mà vẫn không xác định được ai là chủ sở hữu thì động sản đó thuộc sở hữu của người phát hiện theo quy định của pháp luật; nếu vật là bất động sản thì sau năm năm, kể từ ngày thông báo công khai vẫn chưa xác định được ai là chủ sở hữu thì bất động sản đó thuộc Nhà nước; người phát hiện được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, người phát hiện ra tài sản vô chủ là động sản sẽ có quyền sở hữu sau 1 năm. Đối với bất động sản sau 5 năm kể từ ngày thông báo công khai vẫn không xác định được ai là chủ sở hữu thì bất động sản thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, người phát hiện sẽ nhận được một khoản tiền thưởng.
Luật sư Vũ Hải Lý
(Theo Dantri)

Quy định về phần sở hữu chung trong nhà chung cư

Unknown | 14:16 | 0 nhận xét
Hỏi: Các ki-ốt kinh doanh dịch vụ và khu vực để xe là sở hữu riêng, hay sở hữu chung trong nhà chung cư?
Trả lời:

Điều 70 Luật Nhà ở năm 2005 và Điều 49 Nghị định 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở đã quy định phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung trong nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu như sau:

Phần sở hữu riêng

Phần sở hữu riêng và các thiết bị sử dụng riêng trong nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu bao gồm:

- Phần diện tích bên trong căn hộ (kể cả diện tích ban công, lô gia gắn liền với căn hộ đó) của chủ sở hữu căn hộ; phần diện tích khác trong nhà chung cư mà chủ đầu tư bán cho riêng từng chủ sở hữu căn hộ hoặc bán cho các tổ chức, cá nhân khác.
- Phần diện tích thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư (chủ đầu tư giữ lại, không bán và cũng không phân bổ giá trị phần diện tích thuộc sở hữu riêng này vào giá bán căn hộ cho các chủ sở hữu căn hộ).

- Các thiết bị sử dụng riêng trong căn hộ, trong phần diện tích khác thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu căn hộ hoặc của các chủ sở hữu khác.

Chủ sở hữu căn hộ, chủ sở hữu các phần diện tích khác trong nhà chung cư được gọi chung là các chủ sở hữu nhà chung cư.

Phần sở hữu chung

Phần sở hữu chung nhà chung cư có nhiều chủ sở hữu bao gồm phần diện tích và các thiết bị sử dụng chung cho nhà chung cư được quy định như sau:

Phần diện tích thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư bao gồm: Không gian, hành lang, cầu thang bộ, cầu thang máy, sân thượng, khung, cột, tường chịu lực, tường bao ngôi nhà, tường phân chia các căn hộ, sàn, mái, đường thoát hiểm, hệ thống bể phốt, lối đi bộ, sân chơi chung và các phần khác không thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư.

Phần diện tích khác không phải là phần diện tích thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư.

Nơi để xe (xe đạp, xe cho người tàn tật, xe động cơ hai bánh) được xây dựng theo quy chuẩn xây dựng và có thể bố trí tại tầng hầm hoặc tại tầng một hoặc tại phần diện tích khác trong hoặc ngoài nhà chung cư. Đối với khu vực để xe ô tô thì phải xây dựng theo quy chuẩn xây dựng nhưng do chủ đầu tư quyết định thuộc quyền sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư hoặc thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư.

Phần sở hữu riêng và phần sở hữu chung nhà chung cư, các thiết bị sử dụng chung cho nhà chung cư phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán căn hộ chung cư.

Về thắc mắc của bà Trịnh Hồng Ánh, căn cứ các quy định nêu trên thì phần diện tích nhà còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng là thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư. Trong đó có nơi để xe đạp, xe cho người tàn tật, xe động cơ hai bánh tại tầng hầm, hoặc tại tầng một, hoặc tại phần diện tích khác trong hoặc ngoài nhà chung cư là phần sở hữu chung.

Đối với khu vực để xe ô tô do chủ đầu tư quyết định thuộc quyền sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư hoặc thuộc sở hữu riêng của chủ sở hữu nhà chung cư.

Phần diện tích khác không phải là phần diện tích thuộc sở hữu riêng của các chủ sở hữu nhà chung cư là phần diện tích thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu nhà chung cư, trong đó có thể có diện tích dùng làm ki ốt để kinh doanh dịch vụ.

Trường hợp phần diện tích ki ốt này do chủ đầu tư giữ lại, không bán và cũng không phân bổ giá trị phần diện tích này vào giá bán căn hộ cho các chủ sở hữu căn hộ, thì diện tích đó thuộc sở hữu riêng của chủ đầu tư.

Theo quy định tại Điều 73 Luật Nhà ở; Điều 50 Nghị định 71/2010/NĐ-CP và Điều 5 Quy chế quản lý sử dụng nhà chung cư (Ban hành kèm theo Quyết định số 08/2008/QĐ-BXD ngày 28/5/2008 của Bộ Xây dựng) thì việc quản lý phần sở hữu chung của nhà chung cư phải do doanh nghiệp có năng lực chuyên môn về quản lý vận hành nhà chung cư thực hiện.

LSTrần Văn Toàn- VPLS Khánh Hưng
Theo Chinhphu.vn