Hiển thị các bài đăng có nhãn ủy quyền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ủy quyền. Hiển thị tất cả bài đăng

Quyền sở hữu với ngôi nhà đã được ủy quyền sử dụng?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Năm 1954 trước khi ra nước ngoài sinh sống, bố tôi có ủy quyền cho bác ruột quản lý và sử dụng một căn nhà tại Tp. Hồ Chí Minh.
Giấy ủy quyền được chứng thực tại cơ quan hành chính, không xác định thời hạn ủy quyền và không được ủy quyền lại. Bác tôi chết năm 2000. Nay bố tôi muốn đòi lại quyền sở hữu căn nhà đó thì có được không? (Bạn đọc Minh Thuận, Tp.HCM).

Trả lời:

Ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có quyền và nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền. Như vậy, đối tượng của ủy quyền là công việc, chứ không phải là tài sản nào đó. Việc bố bạn có tài sản là căn nhà tại Tp.HCM và đã ủy quyền cho bác bạn quản lý tức là đã giao công việc cho bác bạn được thực hiện nhân danh bố bạn; quyền sở hữu của bố bạn đối với căn nhà vẫn thuộc về bố bạn mà không chuyển giao sang cho bác bạn.

Điều 185 Bộ luật Dân sự quy định về quyền chiếm hữu của người được ủy quyền quản lý tài sản như sau: Khi chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản cho người khác thì người được ủy quyền thực hiện quyền chiếm hữi tài sản đó trong phạm vi, theo cách thức, thời hạn do chủ sở hữu xác định. Người được ủy quyền quản lý tài sản không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao.

Như vậy, quyền sở hữu căn nhà vẫn luôn thuộc về bố bạn (trừ trường hợp đã chuyển quyền bằng một hợp đồng, giao dịch như mua bán, tặng cho …). Bác bạn chỉ là người đại diện để quản lý, trông nom mà không trở thành chủ sở hữu của căn nhà đó.

Hợp đồng ủy quyền giữa bố và bác bạn không có thời hạn thì theo quy định của pháp luật hợp đồng này có hiệu lực một năm, kể từ ngày xác lập việc ủy quyền. Hợp đồng ủy quyền chấm dứt trong các trường hợp:

- Hợp đồng ủy quyền hết hạn;

- Công việc ủy quyền đã hoàn thành;

- Bên ủy quyền, bên được ủy quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng;

- Bên ủy quyền hoặc bên được ủy quyền chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

Đối chiếu với quy định trên thì nay bác bạn đã chết do đó ủy quyền giữa bố và bác bạn đương nhiên hết hiệu lực theo quy định của pháp luật. Như vậy, bố bạn vẫn tiếp tục được thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với căn nhà trên. Vậy bố bạn không cần phải đòi lại quyền sở hữu căn nhà đó mà từ trước đến giờ vẫn là chủ sở hữu của căn nhà.
LS Đào Thanh Huyền
Theo Vietnamnet

Có thể cầm cố nhà do người khác ủy quyền?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Bạn tôi là A. có căn nhà do ông D. ủy quyền. Đất chưa có sổ đỏ, nền do Nhà nước cấp thuộc diện 105 (sau 10 năm mới được cấp sổ đỏ), trên nền nhà có căn nhà cấp 4 (nhà có giấy phép xây dựng do ông D. xin), sổ hộ khẩu có hai nhân khẩu là ông D. và A. đứng tên.
Nay A. thiếu tiền tôi nên định cầm cố cho tôi căn nhà nêu trên. Xin hỏi căn nhà với giấy tờ như vậy thì việc cầm cố có hợp pháp không? Phải làm giấy tờ như thế nào? Cần xác nhận ở đâu?
LAMNGOCQUY_RONGCON @...

Trả lời:

Ủy quyền chỉ là việc nhân danh và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi ủy quyền, vì vậy nếu chỉ có giấy ủy quyền của ông D., bạn của bạn là A. không phải là chủ sở hữu hợp pháp của ngôi nhà trên nên không có quyền cầm cố cho bất kỳ ai theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

Để có thể thực hiện được việc cầm cố ngôi nhà trên cho người khác, A. phải được ông D. bán lại căn nhà theo hình thức xác lập hợp đồng mua bán tại phòng công chứng hoặc UBND cấp xã nơi có ngôi nhà (nếu nhà ở tại nông thôn).

Sau khi đã hoàn tất các nghĩa vụ về thuế, lệ phí trước bạ và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền (UBND cấp huyện nơi có nhà, đất) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, A. mới có thể cầm cố lại cho người khác.

Việc cầm cố ngôi nhà trên có thể thực hiện tại phòng công chứng có thẩm quyền.
LS NGUYỄN VĂN HẬU
Theo Tuổi trẻ

Cấp sổ đỏ theo giấy ủy quyền

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Theo mẹ tôi thì vào năm 1999, cha tôi đã làm giấy ủy quyền cho bà được đứng tên trên giấy đỏ 2.000 m2 đất.
Ngoài giấy ủy quyền đó thì mẹ tôi không còn giấy gì liên quan đến nguồn gốc đất. Vậy mẹ tôi có thể làm thủ tục xin cấp giấy đỏ hay không?
Huỳnh Thị Thu Vân (Đức Trọng, Lâm Đồng)

Trả lời:

Theo khoản 6 Điều 50 Luật Đất đai, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày luật này có hiệu lực thi hành (1/7/2004), nay được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ.

Nếu mẹ chị không đáp ứng được những điều kiện luật định nói trên (trong đó có việc bị các con tranh chấp) thì bà ấy sẽ không được UBND huyện xét cấp giấy đỏ.
LS NGUYỄN ĐÌNH HÙNG
Theo PL TPHCM

Có thể ủy quyền bán đất khi đang sống ở nước ngoài không?

Unknown | 07:23 | 0 nhận xét

Hỏi: Tôi có mua một miếng đất 7x40m, có hợp đồng mua bán tay, nay lên xã xin thủ tục sang tên mới biết miếng đất không thuộc quyền sở hữu của người cha nữa mà đã sang tên cho người con gái (đứng tên để vay tiền ngân hàng vì người cha đã lớn tuổi).
Nay người con gái đã theo chồng ra nước ngoài, vậy tôi phải làm sao để có thể sang tên được? Nếu người con không về Việt Nam, cô ấy có thể ủy quyền cho người cha hay anh, chị, em cô ấy ký sang tên được không?

Mong báo tư vấn giúp. Cảm ơn. Bang Tran (tvbang82@...)

Trả lời

Nếu hiện tại người con gái đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là “giấy chứng nhận”) hợp pháp đối với miếng đất trên thì bạn chỉ có thể được đứng tên trên giấy chứng nhận đối với mảnh đất này nếu được người con gái chuyển nhượng hoặc tặng cho lại quyền sử dụng đất theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

Nếu không có mặt tại Việt Nam thì người con gái có thể ủy quyền cho người thân hoặc người khác bất kỳ tại Việt Nam để nhân danh, thay mặt mình thực hiện giao dịch.

Trường hợp không được người con gái đồng ý chuyển nhượng hoặc tặng cho quyền sử dụng đất trên thì với hợp đồng mua bán bằng giấy tay với người cha, bạn chỉ có quyền khởi kiện người cha ra tòa án nhân dân cấp huyện nơi có đất để được tòa án giải quyết tranh chấp.

Lưu ý: Trước khi khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẩm quyền, tranh chấp về đất đai của bạn phải được UBND cấp xã nơi có đất hòa giải.
Luật sư Nguyễn Văn Hậu
Theo TTO

Ủy quyền sử dụng đất cần những thủ tục gì?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Trước đây bà nội tôi ủy quyền sử dụng đất cho bố tôi, nhưng hiện nay cả nhà lại muốn ủy quyền sử dụng đất lại cho tôi thì có được không, thủ tục thế nào? (Nguyễn Văn Tú; Email: trainhangheo_bn20042001@yahoo.com)

Trả lời

Vì bạn không cung cấp cụ thể chúng tôi biết bà nội bạn còn hay mất, hàng thừa kế của bà nội bạn còn những ai. Giả định bà nội bạn đã mất, ông nội bạn cũng đã mất, chúng tôi tư vấn như sau:

Theo quy định tại Khoản 4 Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS) thì hợp đồng ủy quyền chấm dứt khi: “Bên uỷ quyền hoặc bên được uỷ quyền chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết”. Như vậy, theo quy định nêu trên, khi bà nội bạn mất thì hợp đồng ủy quyền sử dụng đất giữa bà nội bạn và bố bạn sẽ đương nhiên chấm dứt, có nghĩa là quyền và nghĩa vụ của bố bạn liên quan đến hợp đồng ủy quyền này cũng chấm dứt. Bố bạn cùng các thành viên trong gia đình bạn không có quyền định đoạt việc ủy quyền sử dụng đất lại cho bạn.

Theo bạn trình bày, chúng tôi hiểu bà bạn mất đi không để lại di chúc, di sản bà nội bạn để lại sẽ chia theo pháp luật. Tại Điểm a Khoản 1 điều 676 BLDS quy định: “Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”.

Tại Điều 50 Luật Công chứng 2006 (LCC) quy định: “1.Người duy nhất được hưởng di sản theo pháp luật hoặc những người cùng được hưởng di sản theo pháp luật nhưng thỏa thuận không phân chia di sản đó có quyền yêu cầu công chứng văn bản khai nhận di sản.

2. Việc công chứng văn bản khai nhận di sản được thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 49 của Luật này”.

Khoản 2 Điều 49 quy LCC quy định: “Trong trường hợp di sản là quyền sử dụng đất hoặc tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì người yêu cầu công chứng phải xuất trình giấy tờ để chứng minh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản của người để lại di sản đó.

Trong trường hợp thừa kế theo pháp luật, người yêu cầu công chứng còn phải xuất trình giấy tờ chứng minh quan hệ giữa người để lại di sản và người được hưởng di sản theo quy định của pháp luật về thừa kế”.

Như vậy, để tiến hành ký công chứng hợp đồng ủy quyền sử dụng đất cho bạn thì các hàng thừa kế của ông bà nội bạn phải tiến hành thủ tục khai nhận di sản tại Phòng công chứng có thẩm quyền. Các thừa kế của ông bà nội bạn phải xuất trình những giấy tờ sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng tử của ông bà nội bạn; Giấy khai sinh của tất cả người thừa kế thuộc hàng thừa kế theo quy định của pháp luật; Chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu của những người thừa kế; giấy khai sinh; Chứng minh nhân dân, hộ khẩu của bạn. Sau khi nhận đầy đủ những giấy tờ trên, văn phòng công chứng sẽ soạn văn bản khai nhận thừa kế để các thừa kế yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã, phường tiến hành niêm yết tại trụ sở Ủy ban, trong thời hạn 30 ngày làm việc nếu không có tranh chấp gì về hàng thừa kế thì các thừa kế có quyền ký hợp đồng ủy quyền sử dụng đất cho bạn.
Luật sư Vũ Thị Hiên
Theo Dantri

Có được quyền đơn phương hủy hợp đồng ủy quyền không?

Unknown | 10:00 | 0 nhận xét

Hỏi: Trước đây tôi có ký Hợp đồng ủy quyền cho một cá nhân khác được thế chấp, chuyển nhượng nhà đất của tôi. Nay, tôi muốn hủy Hợp đồng ủy quyền đó, nhưng người được ủy quyền không chịu ký. Tôi có quyền đơn phương hủy Hợp đồng ủy quyền đó không? (Duy Mạnh, Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội).

Trả lời

Vấn đề của bạn quan tâm là hiện nay bạn có thể đơn phương hủy Hợp đồng ủy quyền đã ký trước đây cho người khác hay không? Theo quy định tại Khoản 1, Điều 588 Bộ Luật dân sự 2005, có quy định như sau:

“Trong trường hợp uỷ quyền có thù lao, bên uỷ quyền có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải trả thù lao cho bên được uỷ quyền tương ứng với công việc mà bên được uỷ quyền đã thực hiện và bồi thường thiệt hại; nếu uỷ quyền không có thù lao thì bên uỷ quyền có thể chấm dứt thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên được uỷ quyền một thời gian hợp lý.

Bên uỷ quyền phải báo bằng văn bản cho người thứ ba biết về việc bên uỷ quyền chấm dứt thực hiện hợp đồng; nếu không báo thì hợp đồng với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp người thứ ba biết hoặc phải biết về việc hợp đồng uỷ quyền đã bị chấm dứt".

Ngoài ra nếu trong Hợp đồng ủy quyền có ghi thời hạn ủy quyền, thì hết thời hạn ủy quyền Hợp đồng ủy quyền cũng đương nhiên chấm dứt hiệu lực.

Để đảm bảo cho bạn trong trường hợp này, bạn có thể làm đơn hoặc nhờ luật sư làm đơn để thông báo việc đơn phương hủy công việc đã ủy quyền của mình, sau đó gửi cho các cơ quan có thẩm quyền được biết để đảm bảo người được ủy quyền không thực hiện các công việc xâm phạm đến quyền, lợi ích của mình.
Công chứng viên Bùi Văn Dòn
Theo Dân Trí

Quyền lợi khi đứng tên trên giấy đất dùm người khác

Unknown | 00:59 | 0 nhận xét
Câu hỏi: Xin chào luật sư, tôi xin hỏi 1 việc như sau:

Mẹ tôi được nhờ đứng tên miếng đất dùm người khác, giờ người chủ đó muốn bán đất đi phải có đầy đủ chữ ký của con cái trong gia đình. Vậy nếu cả nhà tôi đều ký hết thì sau này có xảy ra tranh chấp với người chủ cũ không vì không rõ nguồn gốc miếng đất, và nếu bán đất thì mẹ tôi có được hưởng quyền lợi gì trong đó không? 

Kính gửi: Quý bạn đọc

Theo quy định của pháp luật về đất đai, trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các bên phải lập hợp đồng bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực theo quy định, và làm thủ tục sang tên để bên nhận chuyển nhượng được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Có như vậy bên nhận chuyển nhượng mới được pháp luật công nhận quyền sử dụng đất. 

Trường hợp các bên không tuân thủ đúng quy định nói trên, như trong trường hợp của bạn, bên bán chỉ cấp giấy xác nhận, thì giao dịch sẽ không được pháp luật công nhận. Trong trường hợp như thế, bạn sẽ không có các quyền của người sử dụng đất theo quy định (như thế chấp, chuyển nhượng, cho thuê, để thừa kế, xin giấy phép xây dựng…). 

Và trong trường hợp giữa các bên có tranh chấp, tòa án có thể tuyên giao dịch bị vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức của giao dịch theo điều 134 Bộ luật dân sự, và các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (bên bán trả lại tiền và bạn phải trả lại đất).

Do vậy, khi nhận chuyển nhượng, mẹ bạn nên yêu cầu bên bán phải ký hợp đồng chuyển nhượng có công chứng và sang tên cho mẹ bạn theo đúng quy định để bạn được cấp sổ đỏ riêng, tránh được trường hợp tranh chấp đất sau này.

Do mẹ bạn là người đứng tên trong hợp đồng mua bán và trong GCN QSD, nên về pháp lý, mẹ bạn là chủ sở hữu mảnh đất đó, được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ (trừ khi việc đứng tên là do đại diện, ủy quyền hoặc có các bằng chứng khác chứng minh việc đứng tên là trái với quy định của pháp luật). Khoản 20, Điều 4 Luật Đất đai quy định: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.